Sự bất ổn địa chính trị của Âu-Á
title: Bài 13 — Phần 4 · Chương 1: Sự bất ổn địa chính trị của Âu-Á (Strategic Vision, Brzezinski) type: course-lesson course: brzezinski-strategic-vision status: nha-van-polished source_pages: "226-242"
Bài 13: Phần 4 · Chương 1: Sự bất ổn địa chính trị của Âu-Á
Mục tiêu học tập
- Hiểu được lý do vì sao Brzezinski nhận định lục địa Âu-Á (Eurasia) vừa là nơi phát sinh những mối đe dọa đối ngoại trước mắt và trực tiếp nhất đối với vị thế toàn cầu của nước Mỹ, cụ thể là vành đai trải dài từ kênh đào Suez tới Tân Cương, kéo lên cả vùng Kavkaz hậu Xô viết của Nga, vừa là sân khấu diễn ra một thách thức mang tính dài hạn hơn, đó là sự dịch chuyển trọng tâm quyền lực thế giới từ Tây sang Đông.
- Nắm vững lập trường cụ thể của tác giả xung quanh ba hồ sơ nóng bỏng nhất lúc bấy giờ, bao gồm Afghanistan, Iran và cuộc xung đột Israel-Palestine, đồng thời lý giải nguyên nhân ông phản đối cả việc quân đội Mỹ sa lầy kéo dài lẫn phương án phát động tấn công phủ đầu vào Iran.
- Thấu hiểu những chẩn đoán của ông về một châu Âu đã liên tục "trôi dạt" suốt hai thập niên sau Chiến tranh Lạnh, và giải thích được lý do tại sao ông khẳng định tương lai của toàn bộ khối phương Tây sẽ phụ thuộc chặt chẽ vào việc kết nối thành công Thổ Nhĩ Kỳ và Nga vào một "phương Tây lớn hơn" thông qua hai bệ đỡ là EU và NATO.
- Nắm chắc khung phân tích mang tên "world-island" (đảo thế giới) của nhà địa chính trị lỗi lạc Harold Mackinder. Đây là cơ sở lý thuyết địa chính trị mà Brzezinski vận dụng để chứng minh tại sao không một cường quốc đơn lẻ nào, kể cả Mỹ, còn cơ hội độc chiếm hay "cai trị" Âu-Á, từ đó hiểu rõ những mục tiêu chiến lược cụ thể mà ông đề xuất cho nước Mỹ trong thế kỷ 21.
Nội dung chính
1. Hai lớp nguy cơ mở đầu chương: đe dọa trước mắt và thách thức dài hạn
Brzezinski khởi đầu Phần 4 của cuốn sách bằng một lời khẳng định mang tính định khung, đó là cả mối đe dọa đối ngoại trực tiếp nhất nhắm vào vị thế toàn cầu của nước Mỹ, lẫn những thách thức dài hạn đối với sự ổn định địa chính trị toàn cầu, đều có cội nguồn từ lục địa Âu-Á. Ở thời điểm hiện tại, mối đe dọa trước mắt đang khu trú tại vùng không gian rộng lớn nằm ở phía đông kênh đào Suez của Ai Cập, phía tây tỉnh Tân Cương của Trung Quốc, cùng với khu vực phía nam biên giới hậu Xô viết của Nga tại vùng Kavkaz và các quốc gia Trung Á mới thành lập. Trong khi đó, thách thức dài hạn hơn lại đến từ sự dịch chuyển không ngừng và khó lường của trọng tâm quyền lực toàn cầu. Dòng chảy quyền lực này đang chuyển dần từ Tây sang Đông, cụ thể là từ châu Âu sang châu Á, và thậm chí có khả năng là từ Mỹ sang Trung Quốc.
Đồng thời, ông cũng vạch ra một nghịch lý rất đáng suy ngẫm: nước Mỹ, dù cách trở địa lý, lại dính líu trực tiếp và sâu sắc hơn bất kỳ cường quốc nào vào hàng loạt cuộc xung đột ngay trong lòng lục địa Âu-Á. Trái lại, những ông lớn ở ngay trong khu vực, vốn là bên phải chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất từ các biến động tại vùng đất bất ổn này như Ấn Độ, Nga và Trung Quốc, lại cực kỳ khôn ngoan và cẩn trọng đứng ngoài cuộc. Họ từ chối can thiệp trực tiếp vào những nỗ lực đầy gian nan, đôi khi còn có phần vụng về, của Mỹ khi siêu cường này cố gắng ngăn chặn khu vực này trượt dài vào vòng xoáy xung đột sắc tộc và tôn giáo ngày một leo thang.
2. Afghanistan: giải pháp chính trị nội bộ kết hợp khung khu vực, không phải sự sa lầy quân sự của Mỹ
Khi bàn về vấn đề Afghanistan, Brzezinski tái khẳng định quan điểm mà ông từng phân tích ở những chương trước. Ông cho rằng, muốn tìm kiếm một lối thoát thực sự mang tính xây dựng cho cuộc xung đột dai dẳng tại đây, chìa khóa bắt buộc phải là sự kết hợp giữa hai yếu tố. Thứ nhất là một thỏa hiệp chính trị nội bộ sâu sắc giữa chính quyền trung ương tại Kabul với các lực lượng đối địch trong nước. Thứ hai, thỏa hiệp này phải được đặt dưới một bộ khung khu vực vững chắc từ bên ngoài, nơi các quốc gia láng giềng chủ chốt của Afghanistan cùng gánh vác trách nhiệm lớn hơn để duy trì nền hòa bình chung. Tác giả nhấn mạnh rằng việc Mỹ tiếp tục duy trì sự hiện diện quân sự lâu dài và ôm đồm hầu hết gánh nặng chiến trường không bao giờ là lời giải thỏa đáng cho bi kịch của đất nước này, vốn khởi nguồn sâu xa từ cuộc xâm lược của Liên Xô trước đây, đồng thời phương án này cũng khó lòng kiến tạo được sự ổn định thực chất cho cả khu vực.
3. Iran: không giải quyết bằng tấn công quân sự, mà bằng ngăn chặn (containment) và hành động tập thể
Hoàn toàn tương đồng với góc nhìn trên, Brzezinski cho rằng thách thức địa chính trị mà Iran tạo ra cho khu vực không thể được tháo gỡ một cách đơn giản bằng các đòn không kích hay tấn công quân sự của Mỹ hoặc Israel nhắm vào các cơ sở hạt nhân đang xây dựng của Tehran. Theo phân tích của ông, những hành động quân sự đơn phương ấy chỉ phản tác dụng khi vô tình đẩy chủ nghĩa dân tộc kiêu hãnh của người Iran vào vòng tay của chủ nghĩa chính thống tôn giáo hiếu chiến. Hệ quả kéo theo sẽ là một cuộc chiến tranh tiêu hao kéo dài, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong và ổn định của số ít các chính quyền Ả Rập thân phương Tây còn sót lại tại Trung Đông. Xét về tầm nhìn dài hạn, giải pháp đúng đắn duy nhất là phải từng bước lôi kéo và đồng hóa Iran vào một tiến trình thỏa hiệp hòa bình chung của khu vực.
Tuy nhiên, ngay cả trong kịch bản xấu nhất, tác giả vẫn khẳng định nước Mỹ hoàn toàn đủ khả năng ngăn chặn (contain) một nước Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Lịch sử đã chứng minh Mỹ từng răn đe thành công mối đe dọa hạt nhân từ cả Liên Xô lẫn Trung Quốc trong những giai đoạn các quốc gia này tỏ ra cực kỳ hiếu chiến, để rồi cuối cùng mở ra cánh cửa cho những thỏa hiệp mang tính bước ngoặt giữa Mỹ với Nga và Trung Quốc. Thêm vào đó, Washington sở hữu đầy đủ tiềm lực để thiết lập một lá chắn hạt nhân vững chắc bảo vệ toàn bộ khu vực Trung Đông nếu thực tế chứng minh Iran đã sở hữu loại vũ khí hủy diệt này. Chính vì lẽ đó, nếu Tehran kiên quyết khước từ một thỏa thuận hợp lý với cộng đồng quốc tế, tức là không đưa ra được những bằng chứng đáng tin cậy về việc chương trình hạt nhân của mình hoàn toàn phi quân sự, Mỹ cần phải đưa ra một tuyên bố đanh thép và công khai: mọi hành vi đe dọa hay uy hiếp của Iran đối với các nước láng giềng ở Trung Đông sẽ được xem là đòn tấn công trực diện vào lợi ích an ninh của chính nước Mỹ.
Song song với đó, trước viễn cảnh Iran tiến sát đến việc sở hữu bom nguyên tử, Mỹ nên chủ động tìm kiếm sự đồng thuận từ các cường quốc hạt nhân lớn khác. Mục tiêu là cùng nhau thực thi một nghị quyết chung của Liên Hợp Quốc nhằm giải giáp hạt nhân của Iran, thậm chí sẵn sàng áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết. Tuy vậy, Brzezinski đặc biệt lưu ý rằng hành động cưỡng chế này bắt buộc phải mang tính chất tập thể với sự góp mặt không thể thiếu của cả Nga và Trung Quốc. Mỹ có thể đứng ra bảo trợ chiếc ô hạt nhân cho các đồng minh khu vực, nhưng tuyệt đối không được phép đơn phương khai hỏa chống lại Iran, hoặc chỉ bắt tay với riêng Israel để làm điều đó. Sự đơn độc trong một cuộc chiến tranh quy mô lớn ở Trung Đông sẽ là một vết xe đổ tai hại, đẩy nước Mỹ vào kịch bản tự hủy hoại vị thế của chính mình.
4. Israel-Palestine, và giới hạn của nghị trình cấp bách trước mắt
Bên cạnh hai hồ sơ Afghanistan và Iran, một ưu tiên có tầm quan trọng không hề kém cạnh đối với lợi ích cốt lõi của Mỹ chính là việc tìm kiếm một giải pháp mang tính xây dựng cho cuộc xung đột Israel-Palestine. Điểm nóng nhức nhối này từ lâu đã đầu độc bầu không khí chính trị tại Trung Đông, trở thành mảnh đất màu mỡ dung dưỡng cho chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo trỗi dậy và trực tiếp làm tổn hại nghiêm trọng đến các lợi ích quốc gia của Mỹ. Nếu giải quyết êm thấm cuộc xung đột này, đây sẽ là đóng góp mang tính bước ngoặt cho hòa bình Trung Đông. Ngược lại, nếu tiếp tục để bế tắc kéo dài, Mỹ không chỉ gánh chịu tổn thất lớn về tầm ảnh hưởng tại khu vực mà ngay cả tương lai và vận mệnh của Israel cũng sẽ trở nên cực kỳ mong manh giữa một môi trường quốc tế ngày càng thù địch.
Brzezinski đi đến đúc kết rằng ba vấn đề đan cài kể trên chính là những mục cấp bách hàng đầu trong chương trình nghị sự địa chính trị của Mỹ, bởi tác động của chúng mang tính trực tiếp và tức thì. Thế nhưng, đằng sau những điểm nóng khủng hoảng ấy, sự thay đổi sâu sắc trong cấu trúc phân bổ quyền lực toàn cầu đang đặt ra một yêu cầu lịch sử mang tính vĩ mô hơn. Đó là Mỹ cần thiết lập một tầm nhìn chiến lược dài hạn nhằm hướng tới một trật tự địa chính trị Âu-Á ổn định và mang tính hợp tác cao hơn. Trong giai đoạn lịch sử này, chỉ duy nhất nước Mỹ có đủ thế và lực để làm nhạc trưởng điều phối thế cân bằng xuyên lục địa thiết yếu đó. Nếu Washington lơ là nhiệm vụ này, các đốm lửa xung đột đang âm ỉ khắp lục địa Âu-Á vốn đã thức tỉnh về chính trị sẽ nhanh chóng bùng phát thành những đám cháy lớn vô cùng nguy hiểm. Đáng tiếc thay, trong khi Mỹ loay hoay thì châu Âu lại đang có xu hướng co mình hướng nội, nước Nga vẫn loay hoay trong chiếc bóng của quá khứ gần, Trung Quốc mải miết theo đuổi giấc mơ tương lai của riêng họ, còn Ấn Độ lại luôn nhìn ngó người láng giềng Trung Quốc bằng một thái độ đầy e dè và ghen tị.
5. Eurasia là trung tâm của thế giới: cơ hội bị lãng phí sau năm 1991
Mọi nỗ lực địa chiến lược mang tính dài hạn như vậy bắt buộc phải lấy khu vực Âu-Á làm trọng tâm tổng thể. Sự giao thoa mạnh mẽ giữa những toan tính địa chính trị đầy cạnh tranh, sức mạnh chính trị cốt lõi cùng động lực kinh tế năng động đã biến lục địa xuyên Âu-Á khổng lồ này trở thành trung tâm của mọi dòng chảy thời đại. Sau thời điểm lịch sử năm 1991, khi vươn lên vị thế siêu cường đơn độc cai trị thế giới, nước Mỹ đã nắm giữ một cơ hội ngàn năm có một để chủ động kiến tạo một cấu trúc quốc tế mới tại Âu-Á. Đây vốn là nhiệm vụ lấp đầy khoảng trống quyền lực khổng lồ sau khi khối Trung Xô vốn thống trị lục địa này tan rã. Thế nhưng, cơ hội vàng ấy đã bị Washington lãng phí một cách đáng tiếc. Giờ đây, nước Mỹ buộc phải quay lại giải quyết bài toán dở dang đó trong một bối cảnh lịch sử đầy rẫy những thách thức cam go hơn rất nhiều.
6. Hai thập niên "trôi dạt" hậu Chiến tranh Lạnh: châu Âu thất bại trong việc hiện thực hóa khẩu hiệu "trọn vẹn và tự do"
Suốt hai thập kỷ trôi qua kể từ ngày Chiến tranh Lạnh khép lại, lục địa Âu-Á dường như rơi vào trạng thái trôi dạt tự do. Ở đầu phía Tây, châu Âu không những không thắt chặt đoàn kết mà thậm chí còn trở nên rệu rã và phân rã hơn về mặt chính trị, đẩy cả Thổ Nhĩ Kỳ lẫn nước Nga lùi sâu vào vùng biên giới ngoại vi đầy bất ổn của thế giới phương Tây. Ở đầu phía Đông, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc trên cả ba phương diện kinh tế, chính trị và quân sự đang gieo rắc nỗi bất an bao trùm lên một khu vực vốn đã tích tụ quá nhiều mâu thuẫn và ganh đua lịch sử. Thực tế này đòi hỏi Mỹ phải khẩn trương thiết kế một chính sách cân bằng và thích ứng được với những thách thức ở cả hai đầu Đông Tây của Âu-Á nhằm giữ vững sự ổn định cho toàn bộ bàn cờ lục địa.
Nếu nhìn sâu vào phía Tây, Liên minh châu Âu (EU) đã thất bại trong việc tận dụng thời kỳ hoàng kim gắn liền với khẩu hiệu đầy tham vọng "châu Âu trọn vẹn và tự do" (Europe whole and free) để biến lý tưởng ấy thành một thực tế vững bền. Rõ ràng, một liên minh tiền tệ thuần túy không bao giờ có thể khỏa lấp được sự thiếu vắng của một nền thống nhất chính trị thực chất. Huống hồ, một liên minh tiền tệ vận hành dựa trên nguồn lực và nghĩa vụ quốc gia quá chênh lệch giữa các thành viên thì không cách nào nuôi dưỡng được một ý thức hệ thống nhất xuyên biên giới mang tính ràng buộc pháp lý và đạo đức. Những cú sốc kinh tế dồn dập, đặc biệt là cuộc khủng hoảng bùng phát sau năm 2007 tại khu vực Nam Âu, đã bóc trần sự thật rằng ý niệm về một châu Âu đóng vai trò là một "trọng lượng" chính trị quân sự độc lập chỉ là một ảo tưởng xa vời. Châu Âu, từ vị thế là cái nôi trung tâm của thế giới phương Tây, nay đã dần bị hạ vai trò xuống thành một phần kéo dài của một phương Tây mà kiến trúc sư trưởng và nhân vật định hình chủ chốt không ai khác ngoài nước Mỹ.
7. Rạn nứt tiềm ẩn trong khối phương Tây do Mỹ dẫn dắt: Anh, Pháp, Đức, và nguy cơ quan hệ đặc biệt Đức-Nga
Tuy nhiên, chúng ta không nên lầm tưởng rằng sự thống nhất của khối phương Tây do Mỹ dẫn dắt là một khối bê tông vững chắc và hiển nhiên. Các quốc gia thành viên EU không chỉ thiếu vắng một bản sắc chính trị xuyên quốc gia đúng nghĩa, chưa bàn tới việc cùng nhau chia sẻ một vai trò toàn cầu chung, mà họ còn đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ bởi những rạn nứt địa chiến lược ngày càng khoét sâu. Vương quốc Anh vẫn kiên quyết bám giữ mối quan hệ đặc biệt với Mỹ cùng một vị thế biệt lệ trong lòng EU. Nước Pháp, với tâm lý ghen tị trước tầm ảnh hưởng ngày một lớn của Đức trong vai trò đầu tàu EU, lại không ngừng tìm kiếm ánh hào quang riêng cho mình bằng việc liên tục đưa ra các đề xuất về một ban lãnh đạo chung bắt tay với Mỹ, Nga hoặc Đức, chưa kể đến vai trò dẫn dắt đầy mơ hồ trong dự án Liên minh Địa Trung Hải. Trong khi đó, nước Đức lại có xu hướng quay về với những toan tính mang màu sắc Bismarck khi tìm kiếm một mối quan hệ đặc biệt với Nga. Động thái này ngay lập tức gieo rắc nỗi sợ hãi cho các nước Trung Âu, đẩy họ vào thế phải khẩn thiết tìm kiếm những cam kết an ninh ngày càng chặt chẽ hơn từ phía Washington.
Đáng ngại hơn, hầu hết các quốc gia châu Âu hiện nay đều đang có dấu hiệu thoái lui khỏi những nghĩa vụ an ninh tập thể của chính họ, thậm chí là lơ là cả cam kết với NATO. Bằng nhiều cách biểu hiện khác nhau, từ tầng lớp dân số đang già hóa nhanh chóng cho đến thế hệ trẻ châu Âu đều đang ưu tiên mối bận tâm dành cho hệ thống an sinh xã hội hơn là ngân sách quốc phòng. Về mặt bản chất, Mỹ đang dần bị đẩy vào thế đơn độc gánh vác trách nhiệm bảo trợ an ninh tối hậu cho châu Âu, đổi lại chỉ là một niềm hy vọng mong manh rằng Washington sẽ mãi cam kết bảo vệ biên giới của một "châu Âu trọn vẹn và tự do". Tuy nhiên, ranh giới an ninh ấy hoàn toàn có nguy cơ bị xuyên thủng bởi mối quan hệ đối tác đặc biệt đang âm thầm định hình giữa Đức và Nga. Trục quan hệ này nhận được động lực mạnh mẽ từ sức hút thương mại khó cưỡng đối với giới tinh hoa kinh doanh của Đức, Ý và một số nước khác trước triển vọng béo bở từ một nước Nga đang trong quá trình hiện đại hóa. Do đó, EU đang phải đối mặt với viễn cảnh rạn nứt địa chiến lược sâu sắc, khi một số quốc gia cốt lõi bị cám dỗ bởi những lợi ích kinh tế và chính trị ưu đãi có được từ sự bắt tay với Điện Kremlin.
8. Mở rộng EU sang Trung Âu: thành công ở Ba Lan, nhưng thiếu tầm nhìn dài hạn
Thực trạng này quả thực rất đáng tiếc và đáng lo ngại, bởi dự án nhất thể hóa châu Âu vốn dĩ vẫn ẩn chứa tiềm năng to lớn, điều đã được kiểm chứng qua sự chuyển đổi sâu sắc về mặt dân chủ và xã hội tại khu vực Trung Âu. Tiến trình mở rộng EU sang các quốc gia Trung Âu, khu vực mà thời Chiến tranh Lạnh hay gọi là Đông Âu, đã thổi bùng một làn sóng cải cách thể chế và cơ sở hạ tầng toàn diện, nổi bật nhất là trường hợp của Ba Lan. Sự bứt phá của Warsaw đã tạo ra một tấm gương vô cùng hấp dẫn đối với các nước láng giềng như Ukraine và Belarus. Về lâu dài, hình mẫu châu Âu hoàn toàn đủ sức tạo ra sức hút chuyển dịch mạnh mẽ đối với cả Thổ Nhĩ Kỳ và Nga, với điều kiện một châu Âu năng động hơn về địa chính trị, sát cánh cùng nước Mỹ, phải được dẫn dắt bởi một chiến lược dài hạn thống nhất nhằm thu hút hai quốc gia lớn này gia nhập vào một cộng đồng phương Tây rộng mở và giàu sức sống hơn.
Tuy nhiên, kịch bản lý tưởng đó đòi hỏi một tầm nhìn xa trông rộng cùng một chiến lược hành động nhất quán tương xứng, hai thứ mà cả châu Âu lẫn nước Mỹ thời điểm hiện tại đều đang thiếu khuyết. Thật mỉa mai thay, ngay cả một tờ báo uy tín của quốc gia xa xôi như Hàn Quốc cũng từng đưa ra lời cảnh báo đanh thép vào mùa thu năm 2010 trước sự tự mãn chiến lược của lục địa già. Bài báo thẳng thắn chỉ ra rằng:
Tất nhiên sẽ là sai lầm nếu cho rằng châu Âu bỗng nhiên trở thành một vùng trũng chính trị. Nhưng đúng là người châu Âu cần nhìn lại chính mình một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng, và nhìn xem họ sẽ ở đâu trong 40 năm nữa nếu các xu hướng hiện tại tiếp diễn. Điều cần thiết ngày nay là một định nghĩa rõ ràng về lợi ích của châu Âu, và trách nhiệm của nó. Châu Âu cần một ý thức mục đích cho một thế kỷ mà nhiều yếu tố bất lợi sẽ chống lại nó, cũng như một tuyên bố về các chuẩn mực đạo đức sẽ dẫn dắt hành động của nó và, người ta hy vọng, cả vai trò lãnh đạo của nó.
Theo góc nhìn của Brzezinski, câu hỏi châu Âu sẽ đứng ở đâu trong vòng 40 năm tới liên quan trực tiếp đến số phận mối quan hệ giữa lục địa này với các quốc gia ở phía đông địa lý của nó. Đây là mối quan tâm chung sinh tử của cả châu Âu lẫn nước Mỹ. Ranh giới phía đông của một châu Âu mở rộng, và rộng hơn là của toàn bộ phương Tây, sẽ nằm ở đâu? Thổ Nhĩ Kỳ và Nga sẽ sắm vai trò gì nếu họ thực sự được tích hợp vào một phương Tây lớn mạnh hơn? Ở chiều ngược lại, thảm họa địa chính trị nào sẽ ập xuống đầu Mỹ và châu Âu nếu cả Thổ Nhĩ Kỳ và Nga, phần vì những định kiến hẹp hòi của châu Âu, phần vì thái độ thờ ơ của Mỹ, rốt cuộc lại bị bỏ lại bên ngoài và tìm kiếm lối đi riêng xa rời phương Tây?
9. Thổ Nhĩ Kỳ: từ Ataturk 1921 đến đàm phán EU 2005, lá chắn tiềm năng trước Trung Đông bất ổn
Xét trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ, cuộc chuyển mình đầy thăng trầm nhưng bền bỉ của quốc gia này thực chất đã được định hình theo khuôn mẫu châu Âu ngay từ thuở sơ khai. Đó là dấu mốc năm 1921, khi Ataturk (Mustafa Kemal), thủ lĩnh phong trào Thanh niên Thổ, đưa ra tuyên bố mang tính lịch sử về việc cải tổ phần lõi sắc tộc Thổ của Đế chế Ottoman đã sụp đổ thành một quốc gia dân tộc thế tục theo mô hình châu Âu hiện đại, mang tên Thổ Nhĩ Kỳ. Càng về sau, công cuộc hiện đại hóa của Ankara càng gắn liền với tiến trình dân chủ hóa sâu sắc, một hành trình được tiếp lửa bởi chính khát vọng của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm hiện diện chính danh trong một châu Âu thống nhất. Nguyện vọng này đã được chính giới lãnh đạo châu Âu khích lệ từ những năm 1960, dẫn đến quyết định nộp đơn xin gia nhập EU chính thức vào năm 1987 của quốc gia này. Sau nhiều thăng trầm, nỗ lực ấy cuối cùng cũng đơm hoa kết trái bằng quyết định khởi động đàm phán chính thức của EU vào năm 2005. Cho dù những năm gần đây, một số thành viên cốt lõi của liên minh, tiêu biểu là Pháp và Đức, tỏ rõ thái độ ngập ngừng và do dự trước việc kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ, thì có một sự thật địa chính trị không thể chối bỏ: một Thổ Nhĩ Kỳ sở hữu nền dân chủ lành mạnh, nếu được neo giữ chặt chẽ vào phương Tây bằng nhiều sợi dây liên kết thay vì chỉ dựa vào mỗi NATO, hoàn toàn có thể trở thành tấm lá chắn thép che chở cho châu Âu trước những cơn sóng gió từ một Trung Đông luôn chực chờ bùng nổ bất ổn.
10. Nga: thách thức trong ngắn hạn, nhưng gắn kết chiến lược đang trở nên kịp thời về mặt lịch sử trong dài hạn
Câu chuyện của nước Nga có phần phức tạp và hóc búa hơn nhiều trong ngắn hạn. Tuy nhiên, xét về dài hạn, việc kiên trì theo đuổi một chiến lược gắn kết tích cực và sâu rộng với Moscow đang ngày càng chứng minh được tính đúng đắn và kịp thời về mặt lịch sử. Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng hai thập kỷ sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, nước Nga vẫn đang loay hoay định vị bản sắc của chính mình. Họ vừa bị giằng xé bởi nỗi hoài niệm quá khứ, vừa mang những tham vọng địa chiến lược quá tầm ở một vài thời điểm. Việc Điện Kremlin tìm cách áp đặt "một không gian kinh tế chung" lên các nước cộng hòa cũ rõ ràng đã dấy lên sự lo sợ và phòng bị sâu sắc từ các quốc gia hậu Xô viết mới giành độc lập. Thêm vào đó, những nhân vật chủ chốt trong giới tinh hoa quyền lực Nga vẫn luôn tìm mọi cách làm suy yếu mối liên kết xuyên Đại Tây Dương, đồng thời tỏ ra hằn học trước việc các nước Trung Âu hội nhập sâu vào EU cũng như liên minh phòng thủ NATO, cho dù chính giới lãnh đạo Nga cũng không giấu nổi sự bất an trước tầm ảnh hưởng kinh tế và quân sự ngày một bành trướng của Trung Quốc ngay sát vùng Viễn Đông trù phú tài nguyên nhưng lại thưa thớt bóng người của Nga.
Mặc dù vậy, một luồng sinh khí mới đang âm thầm dịch chuyển sâu trong lòng xã hội Nga. Tầng lớp trung lưu nước này, lực lượng đang nắm giữ vai trò chính trị ngày một quan trọng, rõ ràng có sự đồng điệu và đang tích cực tiếp nhận lối sống phương Tây. Đồng thời, ngày càng có nhiều học giả và trí thức Nga công khai bày tỏ khát vọng đưa đất nước hội nhập và trở thành một phần không thể tách rời của thế giới phương Tây hiện đại. Câu hỏi cốt lõi về mối quan hệ biện chứng giữa hiện đại hóa đất nước và dân chủ hóa thể chế đã bắt đầu len lỏi vào các cuộc thảo luận kín của tầng lớp tinh hoa, thậm chí thu hút sự quan tâm của cả một bộ phận quan chức hàng đầu ngay trong Điện Kremlin. Một bộ phận không nhỏ người Nga đang dần nhận ra rằng bước ngoặt thay đổi căn bản trong quan hệ với phương Tây chính là chìa khóa bảo đảm cho những lợi ích dài hạn và sống còn của quốc gia.
11. Bất ổn địa chính trị đang tăng ở nửa đông Eurasia: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, và nguy cơ hạt nhân
Song song với những biến động ở phía Tây, bầu không khí bất định bao trùm lên trật tự địa chính trị châu Á cũng đang gia tăng rõ rệt ở nửa phía đông của lục địa Âu-Á. Nếu không có những nỗ lực kiềm chế chủ động và khôn khéo, vòng xoáy cạnh tranh địa chính trị gay gắt của một châu Á đầy năng lượng rất dễ lặp lại vết xe đổ xung đột đẫm máu từng xảy ra ở phương Tây suốt hai thế kỷ qua. Chúng ta có thể thấy rõ tham vọng của Trung Quốc đang ngày một phơi bày rõ nét. Sự trỗi dậy của tinh thần dân tộc chủ nghĩa quyết liệt đang dần xé toạc tấm màn nhẫn nhịn được Bắc Kinh ngụy trang khéo léo suốt nhiều thập kỷ qua bằng những khẩu hiệu về sự khiêm tốn ngoại giao, sự ôn hòa dân tộc hay sự kiên nhẫn lịch sử. Dù cuộc đua giành vị trí bá chủ khu vực giữa Trung Quốc với Nhật Bản và Ấn Độ hiện vẫn chủ yếu được kiềm chế trong khuôn khổ ngoại giao và kinh tế, nhưng tiềm lực quân sự đáng gờm cùng ý chí sẵn sàng sử dụng vũ lực đang dần trở thành một biến số không thể bỏ qua trong các phép tính chiến lược của mỗi bên. Bất kỳ một tính toán sai lầm dẫn đến xung đột vũ trang nào giữa hai gã khổng lồ hạt nhân Trung Quốc và Ấn Độ cũng sẽ là một thảm họa khôn lường, nhất khi nó gắn liền với điểm nóng Pakistan, một quốc gia khác cũng sở hữu kho vũ khí hạt nhân đáng gờm. Phương Đông mới đang trỗi dậy mạnh mẽ nhưng cũng ẩn chứa nguy cơ rơi vào trạng thái hỗn loạn không kém gì phương Tây cũ trong lịch sử.
Như những phân tích trước đó trong cuốn sách đã chỉ ra, khu vực tây nam thuộc phần phía đông của lục địa Âu-Á đã và đang chìm trong một cuộc khủng hoảng có sức lây lan vô cùng nguy hiểm. Vùng không gian được mệnh danh là "Balkan Toàn Cầu" mới này, trải dài từ Trung Đông qua Iran, Afghanistan cho đến Pakistan, nơi Mỹ là siêu cường ngoài vùng duy nhất can dự trực tiếp về mặt quân sự, đang đứng trước nguy cơ lan rộng ngọn lửa bất ổn sang cả khu vực Trung Á. Trên thực tế, làn sóng bạo lực đã bắt đầu bùng phát và leo thang tại một số khu vực có đông cộng đồng người Hồi giáo sinh sống ở Bắc Kavkaz thuộc chủ quyền của Nga. Các quốc gia Trung Á mới thành lập đều đang phải đối mặt với những tổn thương sâu sắc từ bên trong, luôn mang tâm lý bất an và khao khát tìm kiếm con đường kết nối trực tiếp với thế giới bên ngoài nhằm thoát khỏi gọng kìm chi phối của hai người khổng lồ Nga và Trung Quốc. Khi toàn bộ lục địa Âu-Á đã bước vào thời kỳ thức tỉnh chính trị mạnh mẽ, sự thiếu vắng một khuôn khổ chung cho tất cả các bên khiến cho tương lai ổn định địa chính trị của lục địa này vẫn còn là một dấu hỏi lớn chưa có lời đáp.
12. Học thuyết Mackinder về "world-island": Thành Cát Tư Hãn, Hitler, và Stalin đều thất bại
Lùi lại lịch sử hơn một thế kỷ trước, nhà tư tưởng địa chính trị tiên phong Harold Mackinder đã định danh lục địa Âu-Á bằng khái niệm "đảo thế giới" (world-island) cốt tử, đồng thời đưa ra một đúc kết kinh điển: "ai cai trị đảo thế giới, người đó sẽ làm chủ cả thế giới" (who rules the world-island, commands the world). Nhìn lại toàn bộ chiều dài lịch sử nhân loại, chỉ có đúng ba vị thủ lĩnh kiệt xuất nhưng tàn bạo, sở hữu trong tay những cỗ máy chiến tranh vô song, từng tiến đến rất gần mục tiêu chinh phục "đảo thế giới". Người đầu tiên là Thành Cát Tư Hãn, vị khả hãn vĩ đại đã suýt hiện thực hóa tham vọng này nhờ vào nghệ thuật quân sự phi thường của kỵ binh Mông Cổ. Tuy nhiên, vó ngựa chinh phạt của ông đã phải dừng lại ở cửa ngõ Trung Âu. Ông đã không thể khuất phục được những rào cản khắc nghiệt về khoảng cách địa lý cùng sức ép từ quy mô dân số khổng lồ của các vùng đất bị chiếm đóng, cuối cùng, một nhúm người Mông Cổ thiểu số thống trị đế chế nhanh chóng bị hòa tan hoàn toàn vào biển người bản địa rộng lớn.
Kẻ thứ hai là Hitler, kẻ sau khi đặt ách thống trị lên hầu khắp châu Âu cũng đã tiến rất gần đến việc thiết lập quyền lực tối cao từ hướng ngược lại, và có lẽ đã giành chiến thắng chung cuộc nếu cuộc xâm lược của quân đội phát xít vào nước Nga nhận được sự phối hợp tấn công đồng thời từ phía đông của phát xít Nhật. Người thứ ba và cũng là người tiến sát đích đến nhất chính là Stalin. Sau thất bại của Hitler, với việc hồng quân Liên Xô áp sát phía tây Berlin ngay giữa lòng châu Âu, Stalin đã nắm trong tay một khối liên minh Trung Xô xuyên lục địa Âu-Á khổng lồ, vốn được củng cố vững chắc nhờ thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, và từng tìm cách đẩy bật tầm ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi bán đảo Triều Tiên. Thế nhưng, giấc mơ kiểm soát hoàn toàn "đảo thế giới" của khối cộng sản nhanh chóng tiêu tan khi liên minh NATO được thành lập ở phương Tây, đồng thời khối liên minh Trung Xô ở phương Đông cũng rạn nứt sâu sắc rồi đổ vỡ sau cái chết của Stalin do những tranh chấp ý thức hệ và lợi ích đầy cay đắng.
13. Kết luận chương: không ai còn "cai trị" nổi Eurasia, mục tiêu của Mỹ là ổn định xuyên lục địa qua thỏa hiệp Tây-Đông
Trước một thực tế lịch sử mới khi châu Á đang trỗi dậy đầy năng động, phức tạp về mặt quốc tế và hoàn toàn thức tỉnh về chính trị, một chân lý rõ ràng đã được xác lập: không một cường quốc đơn lẻ nào còn có thể thực hiện tham vọng "cai trị" Âu-Á để từ đó độc chiếm quyền "chỉ huy" thế giới như lời của Mackinder thuở trước. Đối với Mỹ, sau khi đã phung phí hai thập kỷ vàng ngọc, vai trò của họ giờ đây đòi hỏi sự khôn khéo, tinh tế và thích ứng linh hoạt hơn trước cán cân quyền lực mới tại Âu-Á. Việc một quốc gia duy nhất thống trị toàn bộ lục địa này, dù quốc gia đó có mạnh mẽ đến đâu, là điều hoàn toàn bất khả thi trong bối cảnh các đối thủ cạnh tranh sừng sỏ ở khu vực liên tục xuất hiện. Do đó, mục tiêu thiết thực và cấp bách nhất đối với chiến lược dài hạn của Mỹ là kiến tạo một trật tự ổn định rộng khắp trên toàn bộ lục địa xuyên Âu-Á, dựa trên nền tảng thỏa hiệp ngày càng chặt chẽ giữa các cường quốc kỳ cựu phương Tây và những ngôi sao mới nổi ở phương Đông.
Để hiện thực hóa mục tiêu cốt lõi này, Mỹ buộc phải tham gia tích cực vào việc tái định hình một thế giới phương Tây rộng lớn và năng động hơn, đồng thời đóng vai trò là cán cân điều hòa các cuộc cạnh tranh khốc liệt đang nhen nhóm tại một phương Đông đầy biến động. Sứ mệnh vô cùng phức tạp này đòi hỏi một sự kiên trì bền bỉ suốt nhiều thập kỷ nhằm thiết lập những cầu nối mang tính chuyển đổi thông qua EU và NATO. Mục tiêu là kéo cả Nga lẫn Thổ Nhĩ Kỳ xích lại gần và hội nhập sâu hơn vào khối phương Tây vốn đã có sự gắn kết vững chắc giữa EU và Mỹ. Từng bước đi vững chắc trên trục chiến lược này sẽ giúp thổi luồng sinh khí mới và định hình lại mục tiêu chiến lược cho một châu Âu đang có nguy cơ trượt dài vào sự suy thoái địa chính trị, dẫn đến phân rã nội bộ và mất đi tiếng nói trên trường quốc tế.
Song song với đó, tại châu Á, sự can dự của Mỹ cần phải hướng đến việc xây dựng và nuôi dưỡng mối quan hệ hợp tác thực chất với Trung Quốc. Mỹ cũng cần chủ động đóng vai trò trung gian thúc đẩy sự hòa giải lịch sử giữa Trung Quốc và Nhật Bản, đồng minh cốt lõi của Mỹ tại khu vực, bên cạnh việc không ngừng thắt chặt quan hệ hữu nghị với các quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn như Ấn Độ và Indonesia. Nếu không thực hiện được điều này, các cuộc cạnh tranh khốc liệt ở châu Á, đặc biệt là nỗi ám ảnh sợ hãi trước sự bành trướng của một Trung Quốc bá quyền, sẽ bóp nghẹt cả tiềm năng phát triển của châu lục lẫn sự ổn định của chính nó. Thách thức lớn nhất đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ lúc này là phải chuyển hóa thành công một tầm nhìn địa chính trị dài hạn thành một chiến lược hành động nhất quán, khả thi về mặt lịch sử và hấp dẫn về mặt chính trị, giúp thúc đẩy một cách thực tế sự phục hưng của phương Tây và tạo điều kiện cho sự ổn định của phương Đông trong một cấu trúc hợp tác đa phương rộng mở.
Điểm cần nhớ
- Chương khởi đầu Phần 4 bằng việc vạch ra hai lớp nguy cơ trên lục địa Âu-Á, bao gồm mối đe dọa trước mắt (nằm tại vành đai Suez, Tân Cương và Kavkaz) cùng thách thức dài hạn (sự chuyển dịch trọng tâm quyền lực từ Tây sang Đông). Trong khi đó, các cường quốc khu vực như Ấn Độ, Nga và Trung Quốc đều chủ động đứng ngoài các nỗ lực của Mỹ bất chấp việc họ là bên chịu ảnh hưởng trực tiếp hơn.
- Ba hồ sơ nóng bỏng tại khu vực: đối với Afghanistan, giải pháp bắt buộc phải là thỏa hiệp nội bộ giữa chính quyền Kabul với các phe phái đối địch kết hợp cùng một khuôn khổ khu vực ổn định, chứ không phải sự can thiệp quân sự kéo dài của Mỹ; đối với Iran, thách thức không thể giải quyết bằng đòn tấn công quân sự của Israel hay Mỹ mà phải bằng chiến lược ngăn chặn (containment), thiết lập chiếc ô hạt nhân cho Trung Đông và thực thi tập thể có sự tham gia của Nga và Trung Quốc; đối với xung đột Israel-Palestine, đây là điểm nóng đầu độc cả khu vực và gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia của Mỹ.
- Mỹ đã lãng phí cơ hội lịch sử có một không hai để định hình trật tự mới tại Âu-Á sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991. Suốt hai thập kỷ sau Chiến tranh Lạnh, cả lục địa Âu-Á rơi vào trạng thái "trôi dạt" khi châu Âu ngày càng kém đoàn kết, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga bị gạt ra rìa phương Tây, còn Trung Quốc thì vươn lên mạnh mẽ.
- Châu Âu thất bại trong việc biến khẩu hiệu "trọn vẹn và tự do" thành hiện thực: liên minh tiền tệ không thể thay thế cho sự thống nhất chính trị thực chất, cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra sau năm 2007 đã biến châu Âu thành một phần mở rộng của thế giới phương Tây do Mỹ dẫn dắt. Cùng lúc đó, những rạn nứt nội bộ EU ngày càng sâu sắc khi Anh bám chặt lấy Mỹ, Pháp ganh tị với Đức, còn Đức lại ngả về phía Nga theo xu hướng Bismarck. Việc các quốc gia châu Âu bỏ rơi các cam kết an ninh tập thể để ưu tiên cho an sinh xã hội đã đẩy toàn bộ trách nhiệm bảo an nặng nề lên vai nước Mỹ.
- Việc EU mở rộng sang Trung Âu, tiêu biểu là thành công của Ba Lan, đã tạo ra sức hút lớn đối với Ukraine và Belarus, song toàn khối lại thiếu một tầm nhìn dài hạn 40 năm như bài báo Hàn Quốc năm 2010 từng thẳng thắn chỉ trích. Thổ Nhĩ Kỳ, trải qua hành trình từ thời Ataturk năm 1921 đến khi khởi động đàm phán EU năm 2005, hoàn toàn có thể đóng vai trò "lá chắn" bảo vệ châu Âu trước một Trung Đông đầy bất ổn. Nước Nga dù mang lại nhiều thách thức trong ngắn hạn nhưng việc gắn kết chiến lược dài hạn với Moscow là vô cùng kịp thời khi tầng lớp trung lưu nước này đang có xu hướng hướng về phía Tây.
- Ở nửa phía đông của Âu-Á: Trung Quốc bắt đầu bộc lộ tham vọng rõ rệt hơn, kéo theo sự cạnh tranh gay gắt với Nhật Bản và Ấn Độ cùng nguy cơ xung đột hạt nhân giữa Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan. Vùng không gian "Balkan Toàn Cầu" (bao gồm Trung Đông, Iran, Afghanistan và Pakistan) cũng đang tiềm ẩn nguy cơ lan rộng ngọn lửa bất ổn sang các nước Trung Á vốn rất dễ bị tổn thương.
- Theo học thuyết Mackinder với đúc kết kinh điển "ai cai trị đảo thế giới, người đó sẽ làm chủ cả thế giới": trong lịch sử nhân loại chỉ có ba nhân vật (Thành Cát Tư Hãn, Hitler và Stalin với liên minh Trung Xô tại chiến trường Triều Tiên) từng tiến đến rất gần mục tiêu cai trị Âu-Á, và cả ba rốt cuộc đều nhận lấy thất bại.
- Đi đến kết luận: không một cường quốc đơn lẻ nào, kể cả Mỹ, còn đủ khả năng đơn phương "cai trị" Âu-Á. Do đó, mục tiêu chiến lược cốt lõi của Mỹ phải là giữ vững sự ổn định xuyên lục địa thông qua việc thúc đẩy thỏa hiệp giữa các cường quốc phương Tây kỳ cựu và các thế lực phương Đông mới nổi. Mỹ cần nỗ lực kết nối Nga và Thổ Nhĩ Kỳ vào một phương Tây rộng lớn hơn thông qua EU và NATO, đồng thời duy trì thế cân bằng quyền lực ở phương Đông bằng cách hòa giải mối quan hệ Trung - Nhật và mở rộng mạng lưới hữu nghị với Ấn Độ cùng Indonesia.
Nguồn
- Sách: Strategic Vision: America and the Crisis of Global Power — Zbigniew Brzezinski
- Trang: 226-242
Cần hỏi thêm về bài này? Ghi lại câu hỏi hoặc mở kênh thảo luận của lớp.