Các quốc gia bị đe doạ địa chính trị nhiều nhất


title: Bài 10 — Phần 3 · Chương 2: Các quốc gia bị đe doạ địa chính trị nhiều nhất (Strategic Vision, Brzezinski) type: course-lesson course: brzezinski-strategic-vision status: nha-van-polished source_pages: "158-188"

Bài 10: Phần 3 · Chương 2: Các quốc gia bị đe doạ địa chính trị nhiều nhất

Mục tiêu học tập

  • Người học sẽ thấu hiểu sâu sắc khung phân tích của Brzezinski về vấn đề an ninh của các quốc gia yếu thế nằm sát sườn các cường quốc khu vực. Thực tế cho thấy, an ninh của những nước này vốn phụ thuộc chặt chẽ vào việc duy trì nguyên trạng quốc tế nhờ vào vị thế toàn cầu ưu việt của nước Mỹ. Brzezinski ví họ như những "loài nguy cấp" phiên bản địa chính trị, đồng thời lý giải vì sao sự kiềm chế của các cường quốc láng giềng, như trường hợp của Nga đối với Georgia năm 2008, có thể sẽ hoàn toàn biến mất một khi sức mạnh của Mỹ suy giảm.
  • Người học cũng cần nắm vững lý do cụ thể cùng kịch bản nguy hiểm mà Brzezinski vạch ra cho từng quốc gia hoặc nhóm quốc gia, bao gồm Georgia, Đài Loan, Hàn Quốc, Belarus, Ukraine, Afghanistan, Pakistan, cùng với Israel và khu vực Trung Đông Lớn hơn.
  • Bài giảng giúp lý giải nguyên nhân tại sao tác giả cho rằng sự suy tàn của nước Mỹ sẽ không làm giảm bớt quy mô của chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Qua đó, người học cần phân biệt rõ giữa khủng bố nội địa, vốn bắt nguồn từ các điều kiện bất ổn trong nước, với khủng bố nhắm thẳng vào nước Mỹ, loại hình vốn sinh ra từ sự thức tỉnh chính trị Hồi giáo và góc nhìn "Manichean" đầy tính đối đầu phân cực về nước Mỹ.
  • Cuối cùng, người học sẽ nắm được ba kết luận mang tính tổng quát khép lại chương này. Đó là việc hệ thống quốc tế dần mất đi khả năng ngăn chặn xung đột, sự tồn tại của di sản dang dở từ thời Chiến tranh Lạnh với Nga, và nhận định rằng Đông Á cùng Nam Á chính là hai khu vực dễ bị tổn thương nhất trong một thế giới hậu Mỹ.

Nội dung chính

1. Khung phân tích mở đầu: "loài nguy cấp" địa chính trị là gì

Brzezinski mở đầu chương bằng một quan sát mang tính nền tảng về thế giới đương đại. Ông nhận định rằng an ninh của một số quốc gia yếu thế hơn, nằm sát sườn các cường quốc khu vực lớn, luôn phụ thuộc vào nguyên trạng quốc tế được củng cố bởi vị thế toàn cầu ưu việt của nước Mỹ, ngay cả khi Mỹ không hề có cam kết cụ thể nào với họ. Những quốc gia nằm ở vị thế dễ bị tổn thương như vậy chính là phiên bản địa chính trị của "các loài nguy cấp nhất" trong tự nhiên. Một số quốc gia trong nhóm này thậm chí còn bị các nước láng giềng mạnh hơn coi là biểu tượng cho sự can thiệp gây khó chịu của Mỹ vào phạm vi ảnh hưởng khu vực mà họ đang nắm giữ hoặc đang tuyên bố chủ quyền. Do đó, cám dỗ hành động quyết đoán và can thiệp mạnh mẽ hơn đối với các quốc gia này sẽ tăng lên theo tỷ lệ thuận với mức độ suy giảm vị thế toàn cầu của nước Mỹ.

Dù các cường quốc khu vực hiện nay có thể cảm thấy bực bội trước vai trò bảo trợ đó của Mỹ, họ vẫn có lợi ích sát sườn trong việc tránh châm ngòi cho một phản ứng dây chuyền có thể khiến cả hệ thống quốc tế sụp đổ. Chính nỗi e ngại về khả năng xảy ra phản ứng dây chuyền đó đã kiềm chế Nga vào năm 2008, khiến họ không nghiền nát hoàn toàn Georgia trong cuộc xung đột ngắn ngủi giữa hai nước xung quanh vấn đề Ossetia và Abkhazia. Phía Nga nhận thức được rằng việc kéo dài các chiến dịch quân sự có thể làm đổ vỡ mối quan hệ Đông Tây nói chung, đồng thời dẫn đến một hình thức đối đầu nào đó với nước Mỹ. Do sức mạnh nội tại còn hạn chế, cộng thêm hiệu suất chiến đấu không mấy ấn tượng của lực lượng quân đội quy ước, Nga đã quyết định dừng lại trước khi biến cuộc chiến thành một chiến thắng kiểu Pyrros, nghĩa là thắng lợi nhưng phải trả giá quá đắt, và chấp nhận một thành quả lãnh thổ nhỏ nhoi. Tuy nhiên, một nước Mỹ suy giảm nghiêm trọng về vị thế do các nguyên nhân nội tại hoặc tác động từ bên ngoài gần như chắc chắn sẽ làm xói mòn sự kiềm chế vốn có này. Kết quả cộng dồn của quá trình này sẽ là một xu hướng trôi dạt trên diện rộng hướng về một thực tại quốc tế mới, nơi kẻ mạnh nhất mới là kẻ có quyền sinh tồn.

Sau phần đề dẫn này, tác giả đã liệt kê danh sách những quốc gia dễ bị tổn thương nhất kèm theo các bình luận ngắn gọn cho từng trường hợp. Ông cũng lưu ý rõ rằng thứ tự sắp xếp này hoàn toàn không ngụ ý về mức độ dễ tổn thương hay xác suất xảy ra biến cố địa chính trị.

2. Georgia

Một khi nước Mỹ suy yếu, Georgia sẽ hoàn toàn đơn độc và bị phơi bày trước cả những mối đe dọa chính trị lẫn nguy cơ xâm lược quân sự từ phía Nga. Ở thời điểm hiện tại, Mỹ vẫn đang tích cực ủng hộ chủ quyền của Georgia và tán thành nỗ lực gia nhập NATO của quốc gia này. Đồng thời, Mỹ đã viện trợ cho Georgia tổng cộng 3 tỷ USD kể từ năm 1991, trong đó khoản tiền 1 tỷ USD được giải ngân ngay sau khi cuộc chiến năm 2008 kết thúc. Cam kết mạnh mẽ này được củng cố bằng tuyên bố chính thức từ phía Washington rằng nước Mỹ không công nhận các phạm vi ảnh hưởng.

Sự suy thoái của Mỹ chắc chắn sẽ làm suy giảm nghiêm trọng độ tin cậy của những cam kết mang tính tổng quát như vậy. Sự giới hạn về năng lực của Mỹ, đặc biệt là những gì ảnh hưởng tới thiện chí của NATO trong việc đứng vững, tự thân đã có thể khơi dậy ham muốn của Nga trong việc khôi phục lại phạm vi ảnh hưởng cũ. Điều này xuất phát đơn thuần từ việc sự hiện diện của Mỹ tại châu Âu bị thu hẹp, bất chấp mối quan hệ song phương Mỹ Nga lúc đó tiến triển ra sao. Một động lực khác thúc đẩy Điện Kremlin hành động là sự thù ghét cá nhân sâu sắc mà Vladimir Putin dành cho Tổng thống Georgia đương nhiệm khi đó là Mikhail Saakashvili, khi việc hạ bệ vị tổng thống này gần như đã trở thành một nỗi ám ảnh lớn đối với nhà lãnh đạo Nga.

Thêm vào đó, một tác nhân thúc đẩy khác chính là việc Mỹ từng bảo trợ phát triển hành lang năng lượng phía nam cung cấp cho châu Âu chạy qua lãnh thổ Georgia. Cụ thể, hành lang này gồm đường ống dẫn dầu Baku-Tbilisi-Ceyhan đang vận hành và đường ống dẫn khí Baku-Tbilisi-Erzurum, dự kiến sẽ vươn tới châu Âu thông qua Thổ Nhĩ Kỳ. Nga sẽ thu về những lợi ích địa chính trị và kinh tế khổng lồ nếu tái lập được vị thế gần như độc quyền đối với các tuyến cung cấp năng lượng sang châu Âu, kịch bản chắc chắn sẽ xảy ra nếu mối quan hệ giữa Mỹ và Georgia bị bẻ gãy. Nếu Georgia rơi vào cảnh lệ thuộc Moscow, điều này nhiều khả năng sẽ tạo ra hiệu ứng domino lên Azerbaijan, nhà cung cấp then chốt cho hành lang phía nam, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của châu Âu, vốn là một cơ chế gián tiếp giúp kiềm chế tầm ảnh hưởng chính trị của Nga đối với các vấn đề của châu lục này. Vì vậy, trong kịch bản Mỹ suy thoái, một nước Nga được tiếp thêm tự do hành động và khích lệ bởi thành công trong việc kiểm soát Georgia nhiều khả năng sẽ quay sang đe dọa Azerbaijan. Trong hoàn cảnh đó, Azerbaijan sẽ không có xu hướng thách thức một nước Nga đang tràn đầy sinh lực. Kết cục là toàn bộ châu Âu nói chung sẽ phải đối mặt với áp lực nặng nề hơn để nhân nhượng trước các chương trình nghị sự chính trị từ phía Nga.

3. Đài Loan

Kể từ năm 1972, Mỹ đã chính thức thừa nhận nguyên tắc "một Trung Quốc" của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được ghi nhận trong ba bản thông cáo chung Trung-Mỹ vào các năm 1972, 1979 và 1982. Đồng thời, phía Mỹ cũng liên tục khẳng định rằng không bên nào được phép đơn phương thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực. Duy trì nguyên trạng hòa bình đó chính là nền tảng cốt lõi trong chính sách của Mỹ đối với hai bờ eo biển Đài Loan. Bởi lẽ, việc giữ gìn quan hệ tốt đẹp với cả một Trung Quốc đang trỗi dậy lẫn một Đài Loan ngày càng dân chủ và phát triển kinh tế thị trường tự do đều mang lại lợi ích to lớn cho sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ tại Thái Bình Dương, cũng như bảo đảm các lợi ích thương mại của Mỹ ở vùng Viễn Đông.

Mỹ lập luận cho việc tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan rằng đây là một phần không thể thiếu của chính sách duy trì nguyên trạng, vốn đã được xác nhận vào năm 1979 khi Mỹ và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Theo lập luận này, việc nâng cao năng lực tự vệ của Đài Loan là vô cùng cần thiết để bảo vệ quyền tự trị của hòn đảo trước khi một giải pháp hòa bình được thống nhất. Ngược lại, Trung Quốc kiên quyết bác bỏ lập trường này, đồng thời tuyên bố bảo lưu quyền sử dụng vũ lực dựa trên những lý lẽ về mặt chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, trong thời gian qua, Bắc Kinh cũng đã chủ động thúc đẩy chính sách hòa hoãn giữa hai bờ eo biển. Thực tế cho thấy mối quan hệ giữa Đài Loan và Trung Quốc đại lục đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, đánh dấu bằng việc hai bên ký kết Hiệp định Khung Hợp tác Kinh tế (ECFA) vào mùa hè năm 2010 dựa trên các điều khoản tương đối bình đẳng.

Nếu nước Mỹ suy yếu, mức độ dễ tổn thương của Đài Loan chắc chắn sẽ tăng lên rõ rệt. Khi ấy, giới chức hoạch định chính sách tại Đài Bắc sẽ khó lòng phớt lờ được cả những áp lực trực tiếp từ Bắc Kinh lẫn sức hút khổng lồ từ nền kinh tế Trung Quốc đang vô cùng thành công. Ở kịch bản tối thiểu, điều này sẽ đẩy nhanh tiến trình thống nhất giữa hai bờ eo biển, nhưng dưới những điều khoản bất bình đẳng có lợi cho phía đại lục. Nghiêm trọng hơn, nếu sự suy yếu của Mỹ đồng thời làm rạn nứt liên minh chiến lược Mỹ-Nhật, Trung Quốc thậm chí có thể bị cám dỗ gia tăng áp lực lên Đài Loan bằng cách đe dọa sử dụng vũ lực để thực hiện mục tiêu "một Trung Quốc", điều vốn đã được Mỹ công nhận như một thực tế chính trị từ năm 1972. Khả năng này càng dễ xảy ra do lòng tự tôn dân tộc sâu sắc của Trung Quốc đối với vấn đề này. Một lời đe dọa thành công về mặt chính trị như thế có nguy cơ châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng lòng tin nghiêm trọng trên diện rộng tại cả Nhật Bản và Hàn Quốc đối với độ tin cậy của các cam kết an ninh từ Mỹ.

4. Hàn Quốc

Mỹ đã ký kết Hiệp ước Phòng thủ Chung với Hàn Quốc vào năm 1953 và đóng vai trò là quốc gia bảo trợ an ninh cho Seoul kể từ sau cuộc tấn công năm 1950 của Bắc Triều Tiên, cuộc tấn công vốn có sự thông đồng của Liên Xô và Trung Quốc. Thêm vào đó, sự cất cánh kinh tế thần kỳ cùng sự phát triển của hệ thống chính trị dân chủ tại Hàn Quốc chính là minh chứng rõ nét cho thành công từ chính sách can thiệp của Mỹ ở quốc gia này. Dù vậy, trải qua nhiều thập kỷ, chính quyền Bắc Triều Tiên vẫn liên tục tiến hành hàng loạt hành động khiêu khích nhắm vào Hàn Quốc, kéo dài từ các vụ ám sát bộ trưởng nội các cho đến các âm mưu ám hại tổng thống Hàn Quốc. Điển hình là vào năm 2010, Bắc Triều Tiên đã đánh chìm tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc và cướp đi sinh mạng của phần lớn thủy thủ đoàn. Ngay sau đó, vào tháng 11 năm 2010, họ tiếp tục nã pháo vào một hòn đảo của Hàn Quốc, sát hại một số binh sĩ cùng dân thường. Sau mỗi biến cố, Hàn Quốc đều lập tức tìm kiếm sự hỗ trợ từ Mỹ, điều này phản ánh rất rõ thực tế rằng Seoul vẫn phụ thuộc cực kỳ sâu sắc vào Washington để bảo vệ an ninh lãnh thổ.

Bên cạnh đó, Bắc Triều Tiên đang điều chỉnh chiến lược quân sự bằng cách tập trung vào năng lực chiến tranh phi đối xứng để chống lại Hàn Quốc. Chiến lược này được xây dựng dựa trên việc phát triển các dòng tên lửa đạn đạo tầm ngắn, hệ thống pháo binh tầm xa kết hợp cùng vũ khí hạt nhân. Hàn Quốc tuy sở hữu đầy đủ trang thiết bị quân sự để đẩy lùi một cuộc tấn công quy ước thông thường từ phía Bắc Triều Tiên, họ vẫn phải dựa dẫm rất lớn vào liên minh quân sự với Mỹ để tạo thế răn đe và phòng thủ trước nguy cơ bị tấn công toàn diện. Viễn cảnh nước Mỹ suy thoái sẽ đẩy Hàn Quốc vào những sự lựa chọn vô cùng đau đớn. Họ buộc phải chấp nhận vị thế thống trị khu vực của Trung Quốc và coi Bắc Kinh như một bên bảo đảm an ninh mới ở Đông Á, hoặc phải tìm kiếm một mối quan hệ khăng khít hơn nhiều với Nhật Bản, bất chấp những rào cản lịch sử vốn không mấy tốt đẹp giữa hai nước. Lựa chọn thứ hai khả thi vì hai nước đều chia sẻ các giá trị dân chủ và cùng chung nỗi sợ trước sự hung hăng từ cả phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lẫn Trung Quốc. Thế nhưng, khả năng Nhật Bản sẵn sàng đối đầu với Trung Quốc mà không có sự chống lưng vững chắc từ phía Mỹ là một dấu hỏi rất lớn. Do đó, Hàn Quốc hoàn toàn có thể rơi vào thế đơn độc chống chọi trước các mối đe dọa quân sự và chính trị từ bên ngoài, một khi những cam kết an ninh của Mỹ tại khu vực Đông Á không còn giữ được uy tín.

5. Belarus

Trải qua hai mươi năm kể từ khi Liên Xô sụp đổ, Belarus vẫn chìm trong sự phụ thuộc nặng nề cả về mặt chính trị lẫn kinh tế vào nước Nga. Thống kê cho thấy có tới một phần ba tổng kim ngạch xuất khẩu của Belarus là hướng sang thị trường Nga, trong khi quốc gia này gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung năng lượng từ Moscow. Thêm vào đó, phần lớn trong số 9,6 triệu dân Belarus sử dụng tiếng Nga làm ngôn ngữ giao tiếp chính, và do Belarus với tư cách một quốc gia dân tộc độc lập mới chỉ bắt đầu từ năm 1991, chiều sâu của lòng tự tôn cũng như ý thức dân tộc trong quần chúng nhân dân vẫn chưa hề được kiểm chứng thực tế, tất cả các yếu tố cộng hưởng này đã giúp duy trì bền vững tầm ảnh hưởng sâu rộng của Moscow tại đây. Minh chứng rõ nét là vào năm 2009, quân đội Nga đã phối hợp với Belarus để tổ chức cuộc diễn tập quy mô lớn mang tên Zapad (có nghĩa là "phương Tây") ngay trên lãnh thổ nước này. Trong kịch bản diễn tập, họ cùng nhau đẩy lùi một cuộc tấn công giả định từ phía Tây, với đỉnh điểm là đòn tấn công hạt nhân mô phỏng của Nga nhắm thẳng vào thủ đô của một quốc gia phương Tây thuộc khối NATO nằm ngay sát sườn.

Tuy nhiên, mối quan hệ lệ thuộc này giữa Belarus và Nga không phải lúc nào cũng êm ấm và không có bất đồng. Belarus đã kiên quyết từ chối công nhận South Ossetia cùng Abkhazia là những quốc gia độc lập (những vùng lãnh thổ mà Moscow đã thiết lập sau cuộc va chạm năm 2008 với Georgia), bất chấp những áp lực ngoại giao rất lớn và công khai từ phía Putin. Đồng thời, sự thiếu vắng hoàn toàn một tiến trình dân chủ thực chất, vốn được thể hiện qua chế độ độc tài kéo dài suốt 17 năm của Tổng thống Lukashenko, đã bóp nghẹt mọi cơ hội xây dựng mối quan hệ có ý nghĩa với thế giới phương Tây. Dù các quốc gia như Ba Lan, Thụy Điển và Lithuania đã nỗ lực thiết lập một số kênh kết nối xã hội dân sự giữa Belarus với Liên minh châu Âu (EU), những kết quả đạt được cho đến nay vẫn rất hạn chế.

Do đó, nếu nước Mỹ suy tàn rõ rệt, Nga sẽ có được một cơ hội ngàn năm có một để thâu tóm Belarus với mức độ rủi ro gần như bằng không. Họ có thể đạt được mục đích này chỉ bằng cách sử dụng vũ lực ở mức tối giản, đồng thời phải trả một cái giá rất rẻ liên quan đến hình ảnh của mình như một cường quốc khu vực có trách nhiệm. Trái ngược hoàn toàn với trường hợp của Georgia, Belarus sẽ không nhận được bất kỳ nguồn viện trợ vũ khí nào từ phương Tây, cũng như không có được sự đồng cảm về mặt chính trị từ khối này. Liên minh châu Âu khó lòng đưa ra một phản ứng cụ thể nào nếu thiếu đi sự ủng hộ của Mỹ, và nhiều quốc gia Tây Âu có lẽ cũng sẽ chọn thái độ thờ ơ trước số phận của Belarus. Tổ chức Liên Hợp Quốc trong bối cảnh đó cũng sẽ rơi vào trạng thái phần lớn là thụ động. Nhóm các quốc gia Trung Âu, những nước luôn nhận thức sâu sắc về mối đe dọa từ một nước Nga ngày càng táo tợn, có thể sẽ kêu gọi một hành động phản kháng chung từ NATO. Thế nhưng, một khi đầu tàu Mỹ đang trên đà suy yếu, họ sẽ khó lòng tập hợp được một phản ứng tập thể đủ mạnh mẽ và quyết đoán.

6. Ukraine

Việc Nga dễ dàng thâu tóm Belarus mà không phải chịu tổn thất lớn sẽ lập tức đặt tương lai của Ukraine vào thế bị đe dọa nghiêm trọng trong vai trò một quốc gia thực sự có chủ quyền. Mối quan hệ giữa Ukraine và Nga kể từ mốc độc lập năm 1991 vốn đã luôn tồn tại những mầm mống căng thẳng, tương tự như việc quan hệ giữa Kyiv với phương Tây luôn ở trong trạng thái do dự và thiếu nhất quán. Moscow đã rất nhiều lần tìm cách ép buộc Ukraine phải thực thi các chính sách có lợi cho mình, trong đó vũ khí năng lượng được sử dụng như một công cụ chính trị đắc lực. Điển hình là vào các năm 2005, 2007 và 2009, phía Nga đã đe dọa hoặc thực sự tiến hành cắt đứt dòng chảy dầu khí cung cấp cho Ukraine với lý do bất đồng về giá cả và các khoản nợ tiền năng lượng chưa thanh toán. Vào mùa hè năm 2010, Tổng thống Ukraine khi đó là Yanukovych đã phải chịu áp lực nặng nề và buộc phải đồng ý gia hạn hợp đồng cho Nga thuê căn cứ hải quân tại cảng Sevastopol trên Biển Đen (thuộc chủ quyền của Ukraine) thêm 25 năm nữa, đổi lại việc nhận được các điều khoản ưu đãi về giá năng lượng từ Moscow.

Ukraine vốn là một quốc gia lớn ở châu Âu với dân số khoảng 45 triệu dân, sở hữu nền công nghiệp vững mạnh cùng tiềm năng nông nghiệp vô cùng trù phú. Việc sáp nhập quốc gia này vào Nga không chỉ giúp Moscow gia tăng đáng kể sức mạnh kinh tế, mà còn đánh dấu một bước tiến khổng lồ trong tham vọng khôi phục lại phạm vi ảnh hưởng của đế chế xưa cũ, điều mà một số nhà lãnh đạo Nga vẫn luôn hoài niệm sâu sắc. Do đó, Điện Kremlin nhiều khả năng sẽ liên tục gia tăng sức ép để lôi kéo Ukraine tham gia vào một "không gian kinh tế chung" với Nga. Họ sẽ từng bước tước đoạt quyền kiểm soát trực tiếp của Kyiv đối với các tài sản công nghiệp khổng lồ thông qua các thương vụ sáp nhập và thâu tóm từ phía các tập đoàn Nga. Đồng thời, Nga cũng sẽ tiếp tục các nỗ lực ngầm nhằm thâm nhập sâu vào các cơ quan an ninh và bộ chỉ huy quân sự của Ukraine, qua đó làm tê liệt khả năng tự vệ và bảo vệ chủ quyền của nước này khi xảy ra biến cố.

Cuối cùng, dưới giả định rằng nước Mỹ suy tàn, phản ứng thờ ơ của châu Âu trước việc Belarus bị thâu tóm, kết hợp với tiền lệ dùng vũ lực thành công để đe dọa Georgia trước đó, có thể sẽ khuyến khích giới lãnh đạo Nga tiến hành một cuộc tái thống nhất công khai hơn vào một thời điểm thích hợp. Tuy nhiên, đây chắc chắn là một ván cờ cực kỳ phức tạp. Nga có lẽ sẽ cần phải sử dụng đến một mức độ vũ lực nhất định, đồng thời dàn dựng ít nhất một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng bên trong Ukraine nhằm ép buộc người dân nước này phải chấp nhận việc hợp nhất chính thức với một nước Nga có tiềm lực kinh tế mạnh hơn. Bên cạnh đó, Moscow vẫn phải đối mặt với nguy cơ kích hoạt một làn sóng phản kháng dân tộc chủ nghĩa muộn màng, đặc biệt là từ các khu vực phía Tây và miền Trung vốn chủ yếu sử dụng tiếng Ukraine. Theo thời gian, tình cảm gắn bó sâu sắc với tư cách quốc gia độc lập của Ukraine đang ngày càng lớn dần trong lòng thế hệ trẻ, bất kể họ sử dụng ngôn ngữ chính là tiếng Ukraine hay tiếng Nga. Nhóm dân số trẻ tuổi này ngày càng coi tư cách quốc gia của Ukraine là một lẽ hiển nhiên và là một phần không thể tách rời trong bản sắc của họ. Do đó, thời gian có thể không ủng hộ cho một sự đầu hàng tự nguyện của Kyiv trước Moscow. Dù vậy, sự nôn nóng và áp lực dồn dập từ phía Nga kết hợp với thái độ thờ ơ, bàng quan của các nước phương Tây hoàn toàn có thể châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng bùng nổ ngay trên rìa biên giới của Liên minh châu Âu.

7. Afghanistan

Trải qua chín năm chiến tranh tàn khốc do Liên Xô tiến hành, Afghanistan tiếp tục bị phương Tây lãng quên suốt một thập niên sau khi quân đội Liên Xô rút đi. Đất nước này sau đó rơi vào cảnh kiệt quệ do sự quản lý yếu kém của chính quyền Taliban thời trung cổ, lực lượng giành quyền lực nhờ sự hậu thuẫn của Pakistan. Trong suốt nhiệm kỳ của Tổng thống Bush, quốc gia này lại tiếp tục gánh chịu thêm bảy năm hoạt động quân sự nửa vời từ phía Mỹ cùng những nguồn viện trợ kinh tế thất thường. Tất cả đã để lại một Afghanistan hoàn toàn hoang tàn, gần như không có hoạt động sản xuất kinh tế nào ngoài việc buôn bán ma túy bất hợp pháp. Hiện tại, quốc gia này đang đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp lên tới 40% và xếp hạng thứ 219 trên thế giới về GDP đầu người, trong khi chỉ có khoảng 15% đến 20% người dân được tiếp cận với nguồn điện sinh hoạt.

Nếu Mỹ quyết định rút quân nhanh chóng do sự mệt mỏi vì chiến tranh hoặc do những biểu hiện sớm của sự suy tàn, kịch bản dễ xảy ra nhất sẽ là tình trạng tan rã nội bộ và cuộc tranh giành ảnh hưởng quyết liệt giữa các nước láng giềng đối với Afghanistan. Khi Kabul thiếu đi một chính phủ hiệu quả và ổn định, đất nước sẽ bị chia rẽ và thống trị bởi các lãnh chúa đối địch. Cả Pakistan và Ấn Độ đều sẽ cạnh tranh ảnh hưởng tại đây một cách công khai và quyết đoán hơn, đồng thời không loại trừ khả năng Iran cũng sẽ can thiệp. Hệ quả là nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh gián tiếp giữa Ấn Độ và Pakistan sẽ tăng cao. Iran nhiều khả năng sẽ tìm cách lợi dụng cuộc đối đầu này để mưu cầu lợi ích riêng. Cả Ấn Độ và Iran đều lo ngại rằng việc gia tăng ảnh hưởng của Pakistan tại Afghanistan sẽ làm đảo lộn cán cân quyền lực khu vực, riêng đối với Ấn Độ, điều này còn có thể kích động thái độ hiếu chiến của Pakistan. Thêm vào đó, do sự hiện diện của các cộng đồng người Tadjik, Uzbek, Kirghiz và Turkmen tại Afghanistan, các quốc gia Trung Á lân cận cũng dễ bị cuốn vào vòng xoáy tranh giành quyền lực này. Càng nhiều bên can thiệp vào tình hình Afghanistan, nguy cơ bùng phát một cuộc xung đột khu vực quy mô lớn lại càng lớn.

Ngay cả trong kịch bản thứ hai, khi Mỹ rút quân theo đúng kế hoạch hiện tại và Afghanistan có được một chính phủ vững chắc với khả năng kiểm soát trung ương nhất định, việc thiếu đi sự can thiệp quốc tế do Mỹ dẫn đầu nhằm duy trì ổn định khu vực vẫn có thể thổi bùng lên những mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo âm ỉ. Khi đó, lực lượng Taliban dưới sự hỗ trợ của nhánh Taliban Pakistan có thể tái xuất hiện như một nhân tố gây rối loạn chính, hoặc đất nước sẽ lại rơi vào tay các lãnh chúa bộ tộc. Afghanistan lúc này có nguy cơ trở thành một mắt xích lớn hơn nữa trong mạng lưới buôn lậu ma túy quốc tế, thậm chí tiếp tục trở thành nơi trú ẩn an toàn cho các tổ chức khủng bố toàn cầu.

8. Pakistan

Mặc dù Pakistan sở hữu kho vũ khí hạt nhân hiện đại của thế kỷ 21 và được gắn kết chặt chẽ bởi một quân đội chuyên nghiệp được tổ chức theo kiểu cuối thế kỷ 20, phần lớn người dân nước này vẫn sống trong bối cảnh tiền hiện đại tại các vùng nông thôn, với bản sắc mang đậm tính vùng miền và bộ tộc, bất chấp sự hiện diện của một tầng lớp trung lưu tích cực chính trị cùng bộ phận dân cư đô thị đông đúc. Niềm tin chung vào đạo Hồi chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy họ đấu tranh đòi thành lập một quốc gia độc lập khi thực dân Anh rút khỏi Ấn Độ. Những cuộc xung đột dai dẳng với Ấn Độ sau đó đã định hình nên ý thức dân tộc riêng biệt của Pakistan, trong khi việc chia cắt cưỡng bức vùng Kashmir vẫn tiếp tục nuôi dưỡng sự thù hận sâu sắc giữa hai quốc gia này.

Điểm yếu lớn nhất của Pakistan nằm ở sự bất ổn chính trị trong nước. Sự suy giảm sức mạnh toàn cầu của Mỹ sẽ làm giảm đáng kể khả năng hỗ trợ Pakistan trong việc củng cố hệ thống và phát triển kinh tế. Pakistan có nguy cơ chuyển dịch thành một quốc gia do quân đội quản lý, một nhà nước Hồi giáo cực đoan, một mô hình kết hợp giữa quân đội và luật Hồi giáo, hoặc thậm chí là một vùng lãnh thổ hoàn toàn không có chính quyền trung ương. Trong kịch bản tồi tệ nhất, Pakistan có thể rơi vào tình trạng chủ nghĩa lãnh chúa hạt nhân, hoặc chuyển hóa thành một chính quyền Hồi giáo cực đoan chống phương Tây tương tự như Iran. Xu hướng cực đoan này có thể lan rộng sang khu vực Trung Á, tạo ra những bất ổn rộng lớn khiến cả Nga và Trung Quốc đều phải lo ngại.

Trong bối cảnh đó, sự suy tàn của Mỹ cũng sẽ làm gia tăng các mối lo ngại về an ninh của Trung Quốc đối với khu vực Nam Á, đồng thời kích thích ham muốn của Ấn Độ trong việc làm suy yếu Pakistan. Trung Quốc cũng sẽ có nhiều khả năng khai thác bất kỳ cuộc đụng độ nào giữa Pakistan và Ấn Độ để tìm kiếm lợi thế, từ đó khiến bất ổn khu vực càng thêm trầm trọng. Sau cùng, việc khu vực này có thể duy trì một nền hòa bình mong manh hay rơi vào một cuộc xung đột diện rộng sẽ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào khả năng kiềm chế các xung động dân tộc chủ nghĩa ngày càng tăng của cả Ấn Độ và Trung Quốc, nhằm không lợi dụng sự hỗn loạn của Pakistan để tranh giành ảnh hưởng.

9. Israel và Trung Đông Lớn hơn

Bên cạnh các quốc gia cụ thể đang đối mặt với nguy cơ trực tiếp, sự suy thoái của Mỹ còn có khả năng châm ngòi cho các biến động địa chất làm lung lay sự ổn định chính trị của toàn bộ khu vực Trung Đông rộng lớn. Với các mức độ khác nhau, mọi quốc gia trong khu vực này đều rất dễ tổn thương trước các áp lực dân túy nội bộ, tình trạng bất ổn xã hội và sự trỗi dậy của chủ nghĩa chính thống tôn giáo, điều đã được thể hiện rõ nét qua các sự kiện đầu năm 2011. Nếu Mỹ suy yếu trong bối cảnh xung đột Israel và Palestine vẫn bế tắc, việc không thể hiện thực hóa giải pháp hai nhà nước được cả hai bên chấp nhận sẽ càng làm nóng thêm bầu không khí chính trị vốn đã căng thẳng của khu vực, đồng thời đẩy làn sóng thù địch nhắm vào Israel lên một nấc thang mới.

Sự suy yếu của Mỹ trong mắt các nước Trung Đông có thể kích thích các quốc gia mạnh hơn trong khu vực, đặc biệt là Iran hoặc Israel, tiến hành các đòn tấn công phủ đầu trước những mối đe dọa mà họ dự đoán. Trong bối cảnh đó, ngay cả một sự cạnh tranh chiến thuật thận trọng cũng có thể châm ngòi cho bạo lực bùng phát cục bộ, ví dụ như các cuộc đụng độ giữa lực lượng Hamas hoặc Hezbollah do Iran bảo trợ với Israel. Những đụng độ này sau đó có thể leo thang thành các cuộc chiến tranh chính quy rộng lớn hơn, đẫm máu hơn, hoặc kích hoạt các phong trào intifada mới. Những thực thể yếu thế như Lebanon và Palestine sẽ phải trả một cái giá cực kỳ đắt về sinh mạng của dân thường. Đáng sợ hơn, cuộc chiến có nguy cơ đạt tới mức độ tàn khốc khủng khiếp thông qua các đòn tấn công và trả đũa lẫn nhau giữa Iran và Israel.

Diễn biến tồi tệ đó có thể kéo nước Mỹ vào một cuộc đối đầu quân sự trực tiếp với Iran. Vì một cuộc chiến tranh quy ước không phải là lựa chọn khôn ngoan cho một nước Mỹ đã kiệt quệ sau các chiến dịch tại Iraq và Afghanistan, và có thể là cả Pakistan tại thời điểm đó, Washington nhiều khả năng sẽ dựa vào ưu thế không quân để giáng các đòn tấn công chiến lược đau đớn vào Iran, đặc biệt nhắm vào các cơ sở hạt nhân của nước này. Tuy nhiên, tổn thất lớn về nhân mạng sẽ kích thích mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc Iran, gieo rắc sự thù hận lâu dài đối với Mỹ và làm hòa trộn sâu sắc chủ nghĩa chính thống tôn giáo với tinh thần dân tộc. Làn sóng Hồi giáo cực đoan và cấp tiến trên khắp Trung Đông sẽ bị thổi bùng, gây ra những hệ lụy nặng nề cho nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh hỗn loạn này, Nga sẽ là bên hưởng lợi lớn về mặt kinh tế nhờ giá dầu tăng vọt, và về mặt chính trị khi sự căm phẫn của thế giới Hồi giáo chuyển hướng từ Nga sang Mỹ. Turkey có thể sẽ bày tỏ sự đồng cảm công khai hơn với cảm giác bị đàn áp của cộng đồng Hồi giáo, trong khi Trung Quốc sẽ có thêm không gian tự do để theo đuổi các lợi ích riêng tại khu vực này.

Trái ngược với quan điểm của những người tin rằng an ninh lâu dài của Israel sẽ được bảo đảm nếu Mỹ luôn đối đầu với thế giới Hồi giáo, bối cảnh địa chính trị mới này có thể đe dọa đến sự tồn vong của chính quốc gia Do Thái. Dù Israel sở hữu năng lực quân sự mạnh mẽ cùng ý chí quốc gia kiên cường để đẩy lùi các mối nguy hiểm trực tiếp và trấn áp người Palestine, nhưng sự hỗ trợ lâu dài và hào phóng từ phía Mỹ (vốn xuất phát từ cảm giác nghĩa vụ đạo đức chân thành hơn là từ sự tương đồng chiến lược thực sự) có nguy cơ trở nên lỏng lẻo và kém tin cậy hơn. Xu hướng rút lui khỏi khu vực sẽ gia tăng song hành với sự suy tàn của Mỹ, bất chấp sự ủng hộ của công chúng Mỹ dành cho Israel, và phần lớn thế giới nhiều khả năng sẽ quy trách nhiệm cho Mỹ về sự hỗn loạn của khu vực. Khi khối dân chúng Arab đã thức tỉnh về mặt chính trị và ngày càng có xu hướng tham gia vào các cuộc bạo lực kéo dài dưới dạng chiến tranh nhân dân, triển vọng dài hạn của Israel sẽ cực kỳ mịt mờ nếu quốc gia này bị cộng đồng quốc tế nhìn nhận như một nhà nước phân biệt chủng tộc apartheid, đúng như lời cảnh báo đáng ngại của Phó Thủ tướng Ehud Barak vào năm 2010.

Sự an nguy của các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư được Mỹ hậu thuẫn cũng sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Khi tầm ảnh hưởng của Mỹ rút lui khỏi khu vực và Iran liên tục gia tăng tiềm lực quân sự cũng như tìm cách bành trướng ảnh hưởng tại Iraq (quốc gia từng là bức tường thành ngăn chặn Iran trước khi bị Mỹ xâm lược vào năm 2003) nỗi bất an và tình trạng bất ổn bên trong Saudi Arabia, Kuwait, Bahrain, Qatar, Oman và UAE sẽ ngày một gia tăng. Các nước này có thể sẽ phải tìm kiếm những thế lực bảo trợ an ninh mới hiệu quả hơn. Trung Quốc nổi lên như một ứng viên sáng giá với những động cơ kinh tế mạnh mẽ, một bước đi có thể tái định hình hoàn toàn cấu trúc địa chính trị của Trung Đông.

Chỉ mới 35 năm trước, Mỹ từng sở hữu mối quan hệ đồng minh vững chắc với bốn quốc gia trụ cột tại Trung Đông là Iran, Saudi Arabia, Egypt và Turkey, giúp bảo đảm an toàn cho mọi lợi ích của Mỹ tại đây. Giờ đây, tầm ảnh hưởng của Washington đối với cả bốn nước này đều suy giảm rõ rệt: Mỹ và Iran rơi vào thế thù địch sâu sắc; Saudi Arabia liên tục chỉ trích các chính sách thay đổi của Mỹ tại khu vực; Turkey thất vọng vì Mỹ thiếu sự thấu hiểu đối với các tham vọng khu vực của họ; còn sự hoài nghi ngày càng tăng của Egypt về mối quan hệ với Israel đang đặt nước này vào thế đối đầu với các ưu tiên của Mỹ. Nói một cách ngắn gọn, vị thế của Mỹ tại Trung Đông đang trên đà lao dốc, và sự suy tàn của siêu cường này sẽ chấm dứt hoàn toàn tầm ảnh hưởng đó.

10. Vì sao sự suy tàn của Mỹ KHÔNG làm giảm quy mô khủng bố quốc tế

Khác với những tác động trực tiếp lên các quốc gia dễ bị tổn thương, việc nước Mỹ trượt dài vào tình trạng bất lực hoặc rơi vào một cuộc khủng hoảng làm tê liệt hệ thống sẽ không ảnh hưởng đáng kể đến quy mô của hoạt động khủng bố quốc tế. Trên thực tế, phần lớn các hành vi khủng bố từ trước đến nay đều mang tính chất nội địa chứ không phải quốc tế. Dù là ở Italy, nơi từng chứng kiến khoảng 2.000 vụ khủng bố chỉ riêng trong năm 1978, hay ở Pakistan ngày nay, nơi thương vong do các vụ ám sát và giết người khủng bố hàng năm luôn ở mức cao, nguồn gốc và mục tiêu của khủng bố nội địa vẫn là sản phẩm của các mâu thuẫn nội bộ. Quy luật này đã tồn tại suốt hơn một thế kỷ qua, kể từ khi khủng bố chính trị xuất hiện như một hiện tượng nổi bật tại Nga và Pháp vào cuối thế kỷ 19. Do đó, sự suy giảm đột ngột của sức mạnh Mỹ sẽ không tác động đến quy mô của các hoạt động khủng bố tại những nước như Ấn Độ, bởi sự tồn tại của chúng ngay từ đầu ít liên quan đến vai trò của Mỹ trên trường quốc tế. Phần lớn khủng bố nội địa bắt rễ từ các căng thẳng chính trị vùng miền hoặc khu vực đã bị cực đoan hóa, vì vậy chỉ có việc cải thiện các điều kiện thực tế tại địa phương mới có thể làm thay đổi quy mô của loại hình khủng bố này.

Mỹ chỉ thực sự trở thành mục tiêu của một dạng hoạt động khủng bố mang tính toàn cầu trong khoảng một thập niên rưỡi trở lại đây. Sự trỗi dậy này gắn liền với làn sóng dân túy mạnh mẽ nảy sinh từ sự thức tỉnh chính trị, đặc biệt là trong một số quốc gia Hồi giáo. Mỹ bị nhắm tới vì các phần tử Hồi giáo cực đoan đã trút mọi sự căm phẫn vào Washington, coi quốc gia này là kẻ thù của Hồi giáo và là thực thể quỷ Satan vĩ đại theo kiểu tân thực dân. Osama bin Laden đã lợi dụng luận điệu coi nước Mỹ là hiện thân của quỷ dữ để biện minh cho sắc lệnh fatwah năm 2001, dẫn tới loạt vụ tấn công khủng bố kinh hoàng ngày 11/9 nhắm thẳng vào nước Mỹ. Lý do sâu xa hơn được Al Qaeda đưa ra là sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Saudi Arabia đã xúc phạm các thánh địa Hồi giáo, cùng với việc Washington liên tục ủng hộ Israel. Bruce Riedel, Nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm Saban thuộc Viện Brookings ở Washington, chỉ ra rằng trong 20 trên tổng số 24 bài phát biểu lớn của mình (cả trước và sau sự kiện 11/9), bin Laden đều biện minh cho các hành vi bạo lực chống Mỹ bằng cách viện dẫn sự hậu thuẫn của nước này dành cho Israel.

Nguồn cảm hứng cho các hoạt động khủng bố quốc tế này bắt nguồn từ thế giới quan nhị nguyên thiện ác tuyệt đối kiểu Manichean của những kẻ cuồng tín Hồi giáo cực đoan nhắm vào nước Mỹ. Với tư duy đó, việc Mỹ suy yếu sẽ không làm giảm đi quyết tâm của các nhóm này. Ngược lại, sự suy tàn của Mỹ cũng không giúp họ giành được quyền lực chính trị thực sự, bởi thông điệp của họ thiếu đi các mục tiêu chính trị thực tế trong nước giống như các tổ chức bám rễ sâu như Hamas hay Hezbollah. Vì thế, khả năng các nhóm khủng bố chính thống này kiểm soát được các phong trào biến động trong thế giới Hồi giáo là rất thấp. Ngay cả khi thành công, điều đó cũng dễ dẫn đến các cuộc xung đột nội bộ hơn là một nỗ lực thống nhất nhằm chống lại các quốc gia bên ngoài. Lịch sử từ thời Bakunin cho đến Bin Laden cũng cho thấy chưa từng có phong trào khủng bố nào đạt được mục tiêu chính trị tối hậu hoặc thay thế thành công các quốc gia để trở thành chủ thể chi phối trên trường quốc tế. Khủng bố có thể làm gia tăng sự hỗn loạn toàn cầu, nhưng bản thân nó không có khả năng định hình cấu trúc của sự hỗn loạn đó.

11. Ba kết luận tổng quát khép chương

Từ những phân tích sâu sắc trên, Brzezinski đã rút ra ba kết luận mang tính khái quát:

  • Thứ nhất, hệ thống quốc tế hiện nay sẽ ngày càng mất đi khả năng ngăn ngừa xung đột một khi nhận thấy rõ ràng rằng Mỹ không còn ý chí hoặc năng lực bảo vệ các quốc gia mà trước đây, vì lý do lợi ích quốc gia hoặc các học thuyết chiến lược, Mỹ từng cam kết can thiệp. Một khi nhận thức này lan rộng trên quy mô toàn cầu, xu hướng sử dụng bạo lực tại các khu vực sẽ gia tăng, trong đó các cường quốc sẽ hành xử đơn phương và áp đặt hơn đối với các nước láng giềng yếu thế. Những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với nền hòa bình thế giới nhiều khả năng sẽ xuất phát từ các thế lực khu vực muốn giải quyết các tranh chấp địa chính trị hoặc sắc tộc lâu đời với những nước láng giềng nhỏ yếu ngay sát cạnh. Sự suy tàn của Mỹ sẽ để lại một khoảng trống quyền lực lớn, tạo điều kiện cho các hành vi dùng vũ lực này diễn ra với cái giá phải trả tương đối rẻ cho bên khơi mào.
  • Thứ hai, một số kịch bản nêu trên chính là di sản chưa giải quyết xong của thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chúng là bằng chứng rõ nét cho thấy nước Mỹ đã bỏ lỡ cơ hội lịch sử trong việc tận dụng sự ổn định của một không gian an ninh hòa bình gần Nga để lôi kéo Moscow vào một cơ chế hợp tác an ninh chặt chẽ hơn. Sáng kiến này có thể đã bao gồm một hiệp ước chung giữa NATO và Nga trong quá trình NATO mở rộng sang phía Đông, qua đó thúc đẩy một tiến trình hòa giải bền vững giữa hai khối, đồng thời củng cố nền dân chủ non trẻ của Nga. Dù một đề xuất như vậy từ phương Tây có thể bị từ chối, nhưng trên thực tế nó chưa bao giờ được đưa ra thử nghiệm. Thay vào đó, sau năm 2001, nước Mỹ rơi vào trạng thái ám ảnh với cuộc chiến chống khủng bố và dồn toàn lực cho các chiến dịch quân sự tại Iraq và Afghanistan, làm tổn hại nghiêm trọng đến bất kỳ thiết kế địa chiến lược tầm vóc nào. Trong khi đó, Nga tập trung vào việc xây dựng một chế độ chuyên quyền kiểm soát chặt chẽ và nỗ lực khôi phục tầm ảnh hưởng của mình trong không gian thuộc khối Xô Viết cũ.
  • Thứ ba, Đông Á và Nam Á sẽ là những khu vực dễ bị tổn thương nhất trước các cuộc xung đột quốc tế trong một thế giới hậu Mỹ. Sự trỗi dậy đồng thời của cả Trung Quốc và Ấn Độ với tư cách là các cường quốc khu vực có tham vọng toàn cầu đang làm thay đổi sâu sắc sự phân bổ quyền lực, trong khi sự cạnh tranh gay gắt giữa hai nước tạo ra những biến động không thể tránh khỏi. Nếu Mỹ suy yếu, các nước nhỏ hơn sẽ buộc phải đưa ra những lựa chọn địa chính trị khắc nghiệt trong một bối cảnh đầy bất ổn, ngay cả khi Trung Quốc và Ấn Độ không xảy ra va chạm trực diện. Cùng lúc đó, áp lực từ phía Trung Quốc nhằm đẩy lùi tầm ảnh hưởng của Mỹ tại châu Á ngày càng tăng, song song với nỗi lo ngại ngày một lớn của các nước Đông Á và Đông Nam Á trước tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Sự bất ổn này còn bị đẩy lên cao bởi việc Bắc Triều Tiên công khai theo đuổi chương trình vũ khí hạt nhân trong bối cảnh các động lực chính trị nội bộ của nước này vô cùng khó lường. Sự suy tàn của Mỹ sẽ làm mất đi một nhân tố kiềm chế quan trọng từ bên ngoài mà các quốc gia có ý định sử dụng vũ lực đơn phương buộc phải dè chừng. Tóm lại, sự suy yếu của Mỹ sẽ là tác nhân trực tiếp làm gia tăng cả về tần suất, quy mô lẫn cường độ của các cuộc xung đột khu vực.

Điểm cần nhớ

  • Brzezinski coi các quốc gia yếu nằm sát cường quốc khu vực là những loài nguy cấp về mặt địa chính trị, bởi an ninh của họ phụ thuộc hoàn toàn vào trật tự quốc tế do vị thế siêu cường của Mỹ bảo trợ. Ví dụ điển hình là việc Nga tự kiềm chế trong cuộc xung đột năm 2008 với Georgia do lo ngại phản ứng dây chuyền và sự đối đầu trực tiếp với Mỹ, một sự kiềm chế sẽ biến mất nếu Mỹ suy tàn.
  • Đối với Georgia, việc mất đi sự bảo trợ của NATO cùng nguồn viện trợ từ Mỹ trị giá 3 tỷ USD tính từ năm 1991 sẽ mở đường cho Nga can thiệp. Động thái này được thúc đẩy bởi cả sự oán hận cá nhân của Putin dành cho Saakashvili lẫn các lợi ích năng lượng chiến lược liên quan đến đường ống Baku, Tbilisi, Ceyhan và Erzurum, từ đó kéo theo hiệu ứng đổ vỡ domino lên Azerbaijan.
  • Đài Loan và Hàn Quốc đều phụ thuộc sống còn vào mức độ tin cậy trong các cam kết an ninh của Mỹ. Đài Loan đối mặt với nguy cơ bị ép thống nhất dưới những điều kiện bất lợi hoặc bị đe dọa bằng vũ lực, trong khi Hàn Quốc, sau các vụ khiêu khích nghiêm trọng như vụ đánh chìm tàu Cheonan năm 2010, buộc phải lựa chọn giữa việc lệ thuộc vào Trung Quốc hoặc chấp nhận một liên minh đầy khó khăn với Nhật Bản.
  • Belarus và Ukraine đứng trước những rủi ro lớn. Belarus có nguy cơ bị Nga sáp nhập một cách dễ dàng và ít tốn kém do thiếu đi vũ khí phòng thủ cũng như tình cảm thân phương Tây như Georgia. Sự sáp nhập này sẽ đe dọa trực tiếp đến chủ quyền của Ukraine, quốc gia có 45 triệu dân, thông qua các áp lực về năng lượng, sự thâu tóm các ngành công nghiệp then chốt cùng nguy cơ can thiệp quân sự lâu dài.
  • Tại Afghanistan và Pakistan, việc Mỹ rút quân sớm khỏi Afghanistan (quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp 40% và xếp hạng 219 về GDP đầu người) có thể châm ngòi cho một cuộc nội chiến giữa các lãnh chúa và cuộc tranh giành ảnh hưởng quyết liệt giữa Ấn Độ, Pakistan và Iran. Trong khi đó, Pakistan, quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ thành một nhà nước do các lãnh chúa hạt nhân cai trị hoặc một chính quyền Hồi giáo cực đoan chống phương Tây.
  • Israel và khu vực Trung Đông rộng lớn hơn sẽ chịu những tác động sâu sắc. Thất bại trong việc giải quyết xung đột Israel và Palestine cùng sự suy yếu của Mỹ có thể đẩy xung đột giữa Iran và Israel leo thang, kéo Mỹ vào vòng xoáy đối đầu trực tiếp với Iran, đồng thời hủy hoại an ninh lâu dài của Israel cũng như mối quan hệ của Mỹ với bốn đối tác truyền thống tại khu vực là Iran, Saudi Arabia, Egypt và Turkey.
  • Mối đe dọa từ khủng bố quốc tế sẽ không hề giảm đi theo sự suy tàn của Mỹ, bởi phần lớn các hoạt động khủng bố vốn mang tính chất nội địa (như trường hợp của Italy năm 1978 hay Pakistan ngày nay) bắt rễ sâu sắc từ các điều kiện xã hội trong nước. Chỉ có nhánh khủng bố toàn cầu nhắm vào Mỹ như Al Qaeda mới liên quan đến vai trò của Washington, và theo nghiên cứu của Bruce Riedel, việc Mỹ hậu thuẫn Israel xuất hiện trong 20 trên tổng số 24 bài phát biểu lớn của bin Laden. Nhân sinh quan nhị nguyên Manichean (thiện ác tuyệt đối) của các phần tử cực đoan này sẽ không thay đổi bất kể Mỹ mạnh hay yếu.
  • Ba kết luận khép lại chương nhấn mạnh rằng hệ thống quốc tế sẽ suy giảm khả năng ngăn chặn xung đột khi Mỹ không còn bảo vệ các quốc gia đồng minh, đây là hệ quả từ cơ hội hợp tác an ninh Mỹ và Nga bị bỏ lỡ sau Chiến tranh Lạnh, và Đông Á cùng Nam Á sẽ là hai khu vực chịu tổn thương lớn nhất trong kỷ nguyên hậu Mỹ do sự trỗi dậy và cạnh tranh song song của Trung Quốc và Ấn Độ.

Nguồn

  • Sách: Strategic Vision: America and the Crisis of Global Power — Zbigniew Brzezinski
  • Trang: 158-188

Cần hỏi thêm về bài này? Ghi lại câu hỏi hoặc mở kênh thảo luận của lớp.