Sự hỗn loạn hậu Mỹ
title: Bài 09 — Phần 3 · Chương 1: Sự hỗn loạn hậu Mỹ (Strategic Vision, Brzezinski) type: course-lesson course: brzezinski-strategic-vision status: nha-van-polished source_pages: "138-157"
Bài 09: Phần 3 · Chương 1: Sự hỗn loạn hậu Mỹ
Mục tiêu học tập
- Hiểu sâu sắc lý do tại sao Brzezinski nhận định rằng việc thiếu vắng một quốc gia dẫn dắt được thế giới công nhận sẽ không mang lại một trật tự mới hòa bình, bình lặng, mà trái lại sẽ châm ngòi cho một cuộc giành giật (scramble) địa bàn đầy căng thẳng ở cấp độ khu vực.
- Nắm bắt được nguyên nhân các cường quốc hạng hai, bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil, đã âm thầm chuẩn bị cho kịch bản Mỹ suy yếu, dù trên thực tế không một quốc gia nào trong số họ có đủ thực lực để thay thế vai trò của Mỹ.
- Phân tích hai bài học nhãn tiền từ lịch sử thế kỷ 20 về ảo tưởng tự huyễn hoặc khi mưu cầu vị thế bá chủ toàn cầu (Hitler và Liên Xô) mà Brzezinski đã đưa ra nhằm cảnh báo cho các quốc gia đang lên.
- Thấu hiểu lập luận cốt lõi của chương này: mặc dù Trung Quốc là ứng cử viên hàng đầu để tiếp quản vị trí của Mỹ, quốc gia này vẫn còn chặng đường rất dài mới đủ tầm vóc gánh vác trách nhiệm đó, và bản thân sự vươn lên mạnh mẽ của Bắc Kinh có nguy cơ kích hoạt một vòng vây địa chính trị từ chính các nước láng giềng xung quanh.
Nội dung chính
1. Không ai cầm trịch: kịch bản hỗn loạn khi vắng người lãnh đạo
Brzezinski mở đầu chương bằng một dự báo vô cùng trực diện. Khi vai trò lãnh đạo thế giới bị bỏ trống, sự gia tăng của những yếu tố bất định gần như chắc chắn sẽ thổi bùng căng thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh, đồng thời kích thích các hành vi thực dụng, vị kỷ. Trong bối cảnh đó, hợp tác quốc tế nhiều khả năng sẽ suy giảm nghiêm trọng. Một số cường quốc sẽ quay sang thúc đẩy các thỏa thuận khu vực mang tính loại trừ (exclusive regional arrangements) như một giải pháp ổn định thay thế nhằm phục vụ lợi ích riêng của họ.
Những đối thủ truyền kiếp trong lịch sử có thể sẽ tranh giành ảnh hưởng công khai hơn, thậm chí sẵn sàng dùng đến vũ lực để xác lập ưu thế khu vực. Một số quốc gia yếu thế hơn sẽ rơi vào tình thế cực kỳ hiểm nghèo khi các trục liên minh quyền lực mới được hình thành nhằm ứng phó với những dịch chuyển địa chính trị lớn trong việc phân bổ quyền lực toàn cầu. Việc thúc đẩy các giá trị dân chủ có thể phải nhường chỗ cho nỗ lực bảo đảm an ninh quốc gia dựa trên sự pha trộn giữa chủ nghĩa độc tài, chủ nghĩa dân tộc và tôn giáo. Ngay cả những tài sản chung toàn cầu (global commons) cũng có nguy cơ rơi vào cảnh bị thờ ơ, bỏ mặc hoặc bị khai thác cạn kiệt, bởi các quốc gia lúc này đều co cụm phòng thủ để tập trung vào những mối bận tâm mang tính sinh tồn chật hẹp và cấp bách trước mắt.
2. Áp lực định hình lại luật chơi quốc tế: IMF, World Bank, Hội đồng Bảo an
Brzezinski chỉ ra rằng nhiều định chế quốc tế then chốt, tiêu biểu như World Bank hay IMF, đang phải đối mặt với sức ép ngày càng lớn từ các quốc gia mới nổi tuy còn nghèo nhưng có lợi thế dân số đông, dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Độ. Các nước này đòi hỏi phải phân bổ lại quyền biểu quyết vốn đang nghiêng hẳn về phía các nước phương Tây. Sự thiên vị đó đã bị một số quốc gia trong khối G-20 thẳng thừng chỉ trích là bất công.
Yêu cầu cốt lõi được đặt ra là quyền biểu quyết phải được tính toán dựa trên quy mô dân số thực tế của các nước thành viên, thay vì phụ thuộc phần lớn vào mức đóng góp tài chính như hiện nay. Đòi hỏi này xuất hiện trong bối cảnh những làn sóng rối ren và bất ổn đang âm ỉ lan rộng giữa các dân tộc vừa thức tỉnh về mặt chính trị trên toàn thế giới. Vì thế, nó có thể nhanh chóng nhận được sự đồng thuận rộng rãi như một bước tiến quan trọng hướng tới việc dân chủ hóa quan hệ quốc tế, cho dù đó không phải là sự dân chủ hóa trong nội bộ mỗi quốc gia. Và trong một tương lai không xa, hệ thống Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc có tuổi đời gần 70 năm, định chế vốn được coi là bất khả xâm phạm với đặc quyền phủ quyết duy nhất của năm thành viên thường trực, có thể sẽ bị dư luận thế giới nhìn nhận là đã mất đi tính chính danh lịch sử.
3. Các cường quốc hạng hai đã âm thầm tính toán trước
Ngay cả khi sự suy yếu của nước Mỹ vẫn diễn ra một cách mơ hồ và đầy mâu thuẫn, Brzezinski nhận định rằng giới lãnh đạo của các cường quốc hạng hai trên thế giới, bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Nga và một số thành viên Liên minh Châu Âu (EU), nhiều khả năng đã và đang âm thầm đánh giá những tác động tiềm tàng của sự suy tàn này đối với lợi ích quốc gia của họ. Viễn cảnh về một cuộc tranh giành quyền lực thời hậu Mỹ dường như đã lặng lẽ hiện diện trong các chương trình hoạch định chiến lược của bộ ngoại giao các nước lớn, dù nó chưa hoàn toàn chi phối các chính sách đối ngoại thực tế của họ.
Người Nhật, với nỗi lo sợ về một Trung Quốc quyết đoán sẽ thống trị toàn bộ lục địa châu Á, có thể đang cân nhắc việc thắt chặt liên kết với châu Âu. Giới lãnh đạo tại New Delhi và Tokyo cũng có thể đang thảo luận về việc hợp tác chính trị, thậm chí là quân sự chặt chẽ hơn, coi đó như một giải pháp phòng ngừa rủi ro phòng khi Mỹ chững lại và Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ. Nga, dù có thể đang nuôi dưỡng những kỳ vọng lạc quan hoặc thậm chí là hả hê trước tương lai bất định của Mỹ, nhiều khả năng đã nhắm tới các quốc gia độc lập thuộc Liên Xô cũ như những mục tiêu ưu tiên hàng đầu để khôi phục và mở rộng tầm ảnh hưởng địa chính trị của mình.
Trong khi đó, một châu Âu chưa thực sự nhất thể hóa sẽ bị kéo về nhiều hướng khác nhau: Đức và Ý nghiêng về phía Nga để bảo vệ các lợi ích thương mại, Pháp và khối các nước Trung Âu đầy bất an thì muốn xây dựng một EU chặt chẽ hơn về mặt chính trị, còn Anh sẽ nỗ lực xoay xở để duy trì thế cân bằng trong nội bộ EU song song với việc giữ gìn mối quan hệ đặc biệt với một nước Mỹ đang suy yếu. Những quốc gia khác thậm chí có thể nhanh chân hơn trong việc tự khoanh vùng ảnh hưởng riêng của mình, chẳng hạn như Thổ Nhĩ Kỳ tại khu vực thuộc Đế chế Ottoman cũ hay Brazil ở khu vực Nam Bán Cầu.
4. Vì sao không ai đủ sức kế thừa ngay vai trò của Mỹ
Mặc dù các cường quốc hạng hai kể trên đều có những toan tính chiến lược riêng, Brzezinski khẳng định rằng không một quốc gia nào trong số đó, ngay cả khi gộp chung lại, sở hữu hoặc có thể sớm sở hữu một tổ hợp toàn diện các sức mạnh về kinh tế, tài chính, công nghệ và quân sự để nghĩ đến việc thay thế vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ.
Nhật Bản vẫn phụ thuộc chặt chẽ vào chiếc ô bảo hộ quân sự của Mỹ và sẽ phải đối mặt với những lựa chọn vô cùng đau đớn: hoặc thỏa hiệp với Trung Quốc, hoặc liên minh với Ấn Độ để kiềm chế Bắc Kinh. Nga vẫn chưa thể vượt qua được cú sốc mất đi đế chế, đồng thời luôn nơm nớp lo sợ trước tốc độ hiện đại hóa thần tốc của Trung Quốc, trong khi bản thân Moscow vẫn loay hoay chưa định vị được tương lai của mình sẽ gắn liền với châu Âu hay với lục địa Á-Âu. Với Ấn Độ, tham vọng vươn lên tầm vóc cường quốc toàn cầu của họ chủ yếu vẫn được đo đếm thông qua cuộc cạnh tranh trực tiếp với Trung Quốc. Riêng châu Âu vẫn chưa thể tự thống nhất được về mặt chính trị và vẫn chọn cách phụ thuộc tiện lợi vào sức mạnh an ninh của Mỹ. Vì vậy, viễn cảnh về một nỗ lực hợp tác thực chất giữa tất cả các bên này để cùng chia sẻ và gánh vác trách nhiệm bảo vệ sự ổn định chung, một khi quyền lực của Mỹ suy giảm, là điều cực kỳ khó xảy ra trong thực tế.
5. Hai bài học lịch sử về ảo tưởng tự huyễn: Hitler và Liên Xô
Brzezinski nhấn mạnh rằng các quốc gia, cũng tương tự như các cá nhân, luôn bị chi phối bởi những thiên hướng có sẵn, cụ thể là các định hướng địa chính trị truyền thống cùng cảm quan lịch sử riêng biệt của mình. Sự khác biệt lớn nhất nằm ở khả năng phân biệt giữa một tham vọng kiên nhẫn với những ảo tưởng nóng vội, thiếu thực tế. Để minh họa, ông đã nhắc lại hai bài học lịch sử cực đoan trong thế kỷ 20 về sự tự huyễn hoặc và nôn nóng đã dẫn đến thảm họa quốc gia như thế nào.
Ví dụ điển hình nhất chính là thói tự đại mù quáng của Adolf Hitler. Nhà độc tài này không chỉ đánh giá quá cao năng lực lãnh đạo toàn cầu của nước Đức mà còn tự tay đưa ra hai quyết định chiến lược cá nhân tai hại, tước đi mọi cơ hội kiểm soát lục địa châu Âu. Quyết định sai lầm thứ nhất là tấn công Liên Xô khi nước Đức mới chỉ chinh phục xong châu Âu nhưng vẫn còn đang dốc sức chiến đấu với Anh. Quyết định tai hại thứ hai là tuyên chiến với Mỹ trong bối cảnh quân đội Đức đang phải căng mình giao tranh sinh tử với cả Liên Xô lẫn Anh trên các mặt trận.
Trường hợp thứ hai tuy diễn ra ít kịch tính hơn nhưng ván cược địa chính trị của nó cũng là quyền lực thống trị toàn cầu. Vào đầu thập niên 1960, giới lãnh đạo Liên Xô đã chính thức tuyên bố rằng họ kỳ vọng sẽ vượt qua Mỹ vào thập niên 1980 về cả sức mạnh kinh tế lẫn năng lực công nghệ. Tuyên bố đầy tham vọng này trước đó đã được củng cố mạnh mẽ bởi thành công vang dội của sự kiện phóng vệ tinh Sputnik. Do đánh giá quá cao thực lực kinh tế của mình, đến cuối thập niên 1970, Liên Xô đã lao vào một cuộc chạy đua vũ trang khốc liệt với Mỹ, nơi khả năng đổi mới công nghệ đóng vai trò quyết định thành bại. Thế nhưng, tổng sản phẩm quốc gia (GNP) thực tế của họ lại giới hạn đáng kể tầm với chính trị lẫn quân sự trên phạm vi toàn cầu. Trên cả hai phương diện này, Liên Xô đã tự vươn quá tầm một cách thảm hại. Sai lầm tính toán đó càng bị khuếch đại nghiêm trọng bởi quyết định sai lầm khi đưa quân xâm lược Afghanistan vào năm 1979. Chỉ một thập kỷ sau đó, một Liên Xô kiệt quệ đã chính thức sụp đổ và khối Xô Viết hoàn toàn tan rã.
Theo phân tích của Brzezinski, trong trật tự thế giới hiện nay không còn xuất hiện những thực thể tương đương với Đức Quốc xã hay nước Nga Xô Viết ngày trước. Không có cường quốc lớn nào trong trật tự quyền lực hiện tại rơi vào tình trạng tự huyễn hoặc dẫn đến thất bại thảm hại như những ứng viên bá quyền khét tiếng của thế kỷ 20. Hơn nữa, cũng chưa có quốc gia nào đủ sẵn sàng về cả ba mặt chính trị, kinh tế và quân sự để tuyên bố gánh vác vai trò lãnh đạo toàn cầu. Quan trọng không kém, họ cũng thiếu đi một phẩm chất vô hình nhưng vô cùng thiết yếu, đó là tính chính danh, thứ mà nước Mỹ từng sở hữu cho đến tận thời gian gần đây. Không một quốc gia nào ở thời điểm hiện tại tự nhận mình là hiện thân của một hệ tư tưởng có giá trị phổ quát cho toàn nhân loại, được bảo chứng bằng những tuyên bố về tính tất định của lịch sử giống như sự cuồng loạn của Hitler năm xưa.
6. Trung Quốc, ứng viên số một nhưng còn xa mới đủ tầm
Quan trọng nhất, theo Brzezinski, Trung Quốc, quốc gia thường được đề cập như người kế thừa tiềm năng nhất của Mỹ, sở hữu một di sản đế chế vô cùng ấn tượng cùng truyền thống chiến lược kiên nhẫn được tính toán cực kỳ kỹ lưỡng. Đây chính là những yếu tố then chốt giúp quốc gia này duy trì sự hưng thịnh và thành công vượt trội suốt hàng nghìn năm lịch sử. Nhờ tư duy đó, Trung Quốc lựa chọn cách tiếp cận khôn ngoan là thận trọng chấp nhận hệ thống quốc tế hiện hành, dù họ không hề xem trật tự quyền lực này là vĩnh viễn.
Bắc Kinh nhận thức rõ ràng rằng sự thành công của chính mình phụ thuộc lớn vào việc hệ thống toàn cầu không bị sụp đổ đột ngột, mà trái lại, cần phải tiến hóa dần dần theo hướng phân bổ lại quyền lực một cách có lợi cho họ. Trung Quốc khao khát có thêm ảnh hưởng, mong muốn nhận được sự tôn trọng của cộng đồng quốc tế và vẫn chưa nguôi ngoai sự oán hận về "thế kỷ ô nhục" trong lịch sử, nhưng họ ngày càng tự tin hơn vào tương lai của mình. Khác biệt hoàn toàn với các ứng viên thất bại trong thế kỷ 20, vị thế quốc tế của Trung Quốc ở giai đoạn hiện tại không mang tính cách mạng lật đổ, không mang màu sắc cứu thế và cũng không bị chi phối bởi lối tư duy nhị nguyên thiện ác tuyệt đối kiểu Manichean.
Tuy nhiên, một thực tế căn bản là Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng, và sẽ cần phải trải qua nhiều thập kỷ nữa mới có thể gánh vác toàn bộ vai trò của Mỹ trên trường quốc tế. Ngay cả giới lãnh đạo Bắc Kinh cũng đã nhiều lần thẳng thắn thừa nhận rằng, xét trên mọi thước đo cốt lõi từ mức độ phát triển, của cải cho đến quyền lực thực tế, kể cả trong vài thập niên tới, Trung Quốc vẫn chỉ là một quốc gia đang trong quá trình hiện đại hóa và phát triển. Họ vẫn tụt hậu một khoảng cách rất xa không chỉ so với Mỹ mà còn so với cả châu Âu và Nhật Bản, đặc biệt là ở các chỉ số bình quân đầu người then chốt đo lường mức độ hiện đại cũng như sức mạnh tổng hợp quốc gia, điều được thể hiện qua Hình 3.1 khi so sánh giữa xu hướng già hóa dân số và quy mô GDP của các cường quốc.
7. "Xin đừng để Mỹ suy tàn quá nhanh", sự kiên nhẫn chiến lược của Trung Quốc
Brzezinski lập luận rằng Trung Quốc dường như thấu hiểu một thực tế, và các khoản đầu tư khổng lồ của quốc gia này vào sự thịnh vượng của nền kinh tế Mỹ đã chứng minh điều đó rõ ràng hơn bất kỳ lời tuyên bố nào, bởi vì chúng xuất phát từ chính lợi ích cốt lõi của họ, rằng một sự sụp đổ quá nhanh chóng của vị thế bá quyền Mỹ sẽ châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng toàn cầu sâu sắc. Cuộc khủng hoảng đó có thể tàn phá trực tiếp đến sự thịnh vượng cũng như những triển vọng phát triển dài hạn của chính Trung Quốc.
Sự thận trọng và kiên nhẫn đã trở thành một phần không thể tách rời trong bộ mã di truyền của đế chế Trung Hoa. Nhưng đi cùng với đó, Trung Quốc cũng là một quốc gia đầy tham vọng, kiêu hãnh và luôn ý thức sâu sắc rằng lịch sử độc đáo của mình chính là khúc dạo đầu cho một vận mệnh vĩ đại phía trước. Không phải ngẫu nhiên mà trong một cuộc đối thoại thẳng thắn hiếm hoi, một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn của Trung Quốc, người tin rằng cả sự suy yếu của Mỹ lẫn sự trỗi dậy của Trung Quốc đều là xu thế tất yếu lịch sử, đã điềm tĩnh chia sẻ với một vị khách Mỹ đến thăm: "But, please, let America not decline too quickly..." (Nhưng, xin làm ơn, đừng để nước Mỹ suy tàn quá nhanh...).
Từ tư duy đó, giới lãnh đạo Bắc Kinh luôn hết sức thận trọng, tránh đưa ra bất kỳ tuyên bố công khai nào liên quan đến vai trò lãnh đạo toàn cầu. Nhìn chung, họ vẫn trung thành tuyệt đối với lời khuyên nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình: "Bình tĩnh quan sát; giữ vững vị trí; ứng phó điềm tĩnh; giấu mình chờ thời; khéo léo giữ vị thế khiêm nhường, và đừng bao giờ tự nhận vai trò lãnh đạo".
Thái độ ứng xử kín kẽ, có phần che giấu thực lực này cũng hoàn toàn tương thích với những chỉ dẫn binh pháp cổ xưa của Tôn Tử. Nhà quân sự lỗi lạc này từng chỉ ra rằng, tư thế khôn ngoan nhất trong một cuộc đối đầu là kiên nhẫn ngồi yên, chờ đợi đối thủ tự mắc phải những sai lầm chí mạng rồi mới tận dụng thời cơ đó để hành động. Thái độ chính thức của Trung Quốc trước những khó khăn nội bộ và cả các cuộc phiêu lưu quân sự, đối ngoại của Mỹ trong những năm qua chính là sự phản ánh đầy ẩn ý cho chiến lược cổ xưa này. Sự tự tin lịch sử của Bắc Kinh luôn đi đôi với những tính toán thận trọng và một tham vọng dài hạn rõ ràng.
8. Trung Quốc không rao giảng mô hình, GDP là "danh thiếp" toàn cầu
Brzezinski lưu ý rằng Trung Quốc, mặc dù đạt được những thành tựu nội địa vô tiền khoáng hậu, cho đến gần đây vẫn không hề có ý định phổ quát hóa mô hình phát triển của mình ra thế giới. Bắc Kinh không còn tuyên truyền những tư tưởng đầy tham vọng về tính đúng đắn lịch sử duy nhất của con đường hiện đại hóa kiểu Trung Quốc đối với toàn nhân loại, như những gì họ từng làm dưới thời kỳ chủ nghĩa cộng sản cực đoan của Mao Trạch Đông. Họ cũng không đưa ra những tuyên bố mang tính học thuyết để tự nhận định rằng các dàn xếp xã hội của mình sở hữu những giá trị đạo đức cao hơn.
Thay vào đó, tấm danh thiếp toàn cầu của Trung Quốc tập trung vào một thông điệp vô cùng thực tế nhưng lại nhận được sự ngưỡng mộ rộng rãi: tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm cực kỳ ấn tượng của họ. Thông điệp đầy sức hút này đã mang lại cho Trung Quốc một lợi thế cạnh tranh địa chính trị vô cùng lớn, đặc biệt là tại các khu vực đang phát triển ở Mỹ Latinh và châu Phi. Nó giúp Bắc Kinh dễ dàng gia tăng các hoạt động đầu tư và thương mại mà không cần phải gây áp lực buộc các quốc gia tiếp nhận phải thực hiện cải cách chính trị trong nước. Điển hình cho xu thế này là kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và châu Phi đã tăng trưởng phi mã tới 1.000%, từ mức 10 tỷ đô la vào năm 2000 lên tới 107 tỷ đô la vào năm 2008.
9. Rủi ro nội tại: bất bình đẳng xã hội, tầng lớp trung lưu mới, và nguy cơ một Thiên An Môn khác
Bên cạnh việc phân tích thế giới quan và những bước đi đối ngoại truyền thống của Bắc Kinh, Brzezinski cũng cảnh báo về những nhân tố bất định lớn đang âm ỉ ngay trong chính quá trình phát triển chính trị và xã hội nội bộ của Trung Quốc. Về mặt thể chế, nhà nước Trung Quốc đã chuyển dịch từ một hình thái toàn trị cực đoan, vốn thỉnh thoảng bị ngắt quãng bởi các chiến dịch quần chúng tàn bạo và đẫm máu mà tiêu biểu nhất là phong trào Đại Nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa, để trở thành một chế độ độc tài mang đậm màu sắc dân tộc chủ nghĩa, vận hành một nền kinh tế tư bản nhà nước chịu sự kiểm soát chặt chẽ.
Cho đến nay, công thức phát triển mới này đã mang lại những thành công kinh tế vô cùng rực rỡ. Tuy nhiên, nền tảng xã hội của nó lại tiềm ẩn nhiều sự mong manh, dễ vỡ. Tăng trưởng kinh tế thần tốc và việc cải thiện mức sống của người dân Trung Quốc đã vô tình khoét sâu những khoảng cách bất bình đẳng xã hội nghiêm trọng, điều mà giờ đây không còn có thể che giấu trước mắt công chúng. Tầng lớp trung lưu mới nổi tại các đô thị lớn không chỉ sở hữu một cuộc sống thịnh vượng mà còn có khả năng tiếp cận chưa từng có với các luồng thông tin toàn cầu, bất chấp mọi nỗ lực ngăn chặn và kiểm duyệt gắt gao từ chính quyền. Việc tiếp cận thông tin này đã kích thích những kỳ vọng mới về mặt chính trị và xã hội, đồng thời làm nảy sinh sự bất mãn đối với những giới hạn ngặt nghèo về quyền chính trị hiện nay. Hệ quả là nó đã tạo ra những cá nhân sẵn sàng đối mặt với rủi ro để trở thành các nhà bất đồng chính kiến hoạt động tích cực.
Những nhà bất đồng chính kiến này đang có một lực lượng ủng hộ tiềm năng vô cùng lớn. Đó là khi bộ phận trung lưu có đặc quyền bắt đầu khao khát một không gian đối thoại chính trị tự do hơn, một sự phản biện xã hội cởi mở hơn và quyền được tham gia trực tiếp hơn vào quá trình hoạch định các chính sách quốc gia. Sự bất mãn về mặt kinh tế cũng đang nhen nhóm trong hàng ngũ giai cấp công nhân công nghiệp đông đảo, và thậm chí là cả trong lực lượng nông dân còn có quy mô lớn hơn rất nhiều. Hàng triệu công nhân tại các nhà máy Trung Quốc mới chỉ bắt đầu nhận thức được rằng họ đang bị trả lương thấp đến thế nào so với sự giàu có xa hoa của tầng lớp trung lưu mới nổi. Trong khi đó, khối nông dân nghèo, bao gồm cả hàng chục triệu lao động bán thất nghiệp đang phải trôi dạt từ thành phố này sang thành phố khác để tìm kiếm những công việc phổ thông, cũng chỉ mới bắt đầu hình thành khát vọng đòi hỏi một phần chia công bằng hơn từ chiếc bánh của cải quốc gia của Trung Quốc.
Chính vì những lý do này, mối bận tâm hàng đầu của giới lãnh đạo Bắc Kinh đối với việc duy trì sự ổn định nội bộ chắc chắn sẽ ngày một gia tăng. Một cuộc khủng hoảng chính trị hoặc xã hội nghiêm trọng ở trong nước, ví dụ như sự tái diễn của biến cố Thiên An Môn năm 1989, có thể sẽ giáng một đòn chí mạng vào vị thế quốc tế của Trung Quốc, đồng thời kéo lùi hoàn toàn những thành tựu không thể phủ nhận mà nước này đã tích lũy được trong suốt ba thập kỷ qua. Những cân nhắc thực tế này nhiều khả năng sẽ buộc giới lãnh đạo Trung Quốc phải tiếp tục giữ một thái độ kín tiếng và thận trọng về lộ trình vươn lên các nấc thang quyền lực toàn cầu. Dù vậy, song song đó, họ cũng phải tìm cách xoa dịu niềm tự hào dân tộc đang ngày một lớn dần trong giới tinh hoa Trung Quốc, đặc biệt là trong mối quan hệ với Mỹ.
10. Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc trỗi dậy và tiếng nói phê phán ngày càng công khai
Vào giai đoạn cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, các nhà bình luận bán chính thức của Trung Quốc, tiêu biểu là các cây bút viết cho Liaowang, tuần san sự vụ tổng hợp trực thuộc Tân Hoa Xã, đã bắt đầu công khai đặt dấu hỏi hoài nghi về tính chính danh lịch sử của toàn bộ trật tự thế giới hiện tại. Một vài nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế của Trung Quốc thậm chí đã manh nha đưa ra một tuyên bố mang tính học thuyết về giá trị phổ quát của mô hình phát triển Trung Quốc. Một tác giả đã viết:
"Sự trục trặc của cơ chế quốc tế ngày nay thực chất chính là sự đổ vỡ của mô hình phương Tây vốn bị chi phối bởi mô hình Mỹ. Ở một tầng sâu hơn, đó chính là sự bế tắc của văn hóa phương Tây. Ngay cả khi tham gia tích cực vào hệ thống quản trị toàn cầu và làm tròn trách nhiệm của một quốc gia đang phát triển lớn, Trung Quốc vẫn cần phải chủ động lan tỏa khái niệm hài hòa của mình ra khắp thế giới. Nhìn lại tiến trình lịch sử nhân loại, sự trỗi dậy của một cường quốc thường sẽ đi kèm với sự ra đời của một tư tưởng mới. Khái niệm hài hòa chính là sự biểu đạt lý thuyết cho quá trình trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc, và nó cần được truyền tải rộng rãi ra thế giới song hành cùng các giá trị về sự công bằng, cùng thắng và phát triển chung."
Các nhà bình luận Trung Quốc đôi khi cũng tỏ ra thẳng thắn hơn khi trực tiếp chỉ trích vai trò lãnh đạo toàn cầu của Washington. Một học giả đối ngoại khác của Trung Quốc khẳng định:
"Mặc dù tham vọng đơn cực của Mỹ đã bị giáng một đòn nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính, quốc gia này vẫn từ chối chấp nhận một cấu trúc quốc tế đa cực. Họ vẫn cố chấp duy trì vị thế bá quyền thế giới và tìm mọi cách để bảo vệ ngôi vị người lãnh đạo hàng đầu của mình. Trước sự trỗi dậy nhanh chóng và không ngừng của Trung Quốc, cùng với việc nâng cao vị thế của một cường quốc mới nổi, thứ tự xếp hạng quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ sớm muộn gì cũng sẽ thay đổi. Do đó, việc hai bên tranh giành vị trí dẫn đầu là điều hoàn toàn không thể tránh khỏi. Cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế đã phơi bày những lỗ hổng chết người của mô hình Mỹ, vì thế Mỹ đã gia tăng các nỗ lực nhằm ngăn chặn và hạ thấp uy tín của mô hình Trung Quốc trong mắt cộng đồng quốc tế. Sự khác biệt về hệ thống chính trị cũng như các giá trị cốt lõi giữa hai nước có thể sẽ còn bị khuếch đại hơn nữa."
Đặc biệt, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007, những làn sóng chỉ trích từ phía Trung Quốc nhắm vào hệ thống và vị thế toàn cầu của Mỹ xuất hiện ngày một thường xuyên và trực diện hơn. Washington bị Bắc Kinh đổ lỗi là tác nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng năm 2007, đồng thời bị chỉ trích vì đã không đánh giá đúng vai trò mang tính quyết định của Trung Quốc trong việc xây dựng các phản ứng tập thể mang tính quốc tế để ứng phó với cuộc khủng hoảng đó. Truyền thông chính trị của Trung Quốc cũng ngày càng gay gắt khi cáo buộc Mỹ thiếu nhạy cảm trước các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, đặc biệt là việc Washington đã can thiệp vào năm 2010 vào các tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng châu Á liên quan đến quyền lợi tương lai ở Biển Đông. Một số nhà bình luận thậm chí còn đi xa hơn khi cáo buộc Mỹ đang âm thầm xây dựng một chiến lược bao vây toàn diện đối với Trung Quốc.
11. Nguy cơ bị bao vây: liên minh không chính thức Nhật, Ấn, Nga
Theo Brzezinski, những phản ứng quyết liệt như vậy không chỉ đơn thuần phản ánh sự tự tin lịch sử đang ngày một lớn mạnh của Trung Quốc, vốn là thứ vũ khí tinh thần dễ dàng biến tướng thành sự tự phụ thái quá, mà còn cho thấy sự trỗi dậy của một chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc ngày càng trở nên quyết đoán hơn. Chủ nghĩa dân tộc này là một nguồn lực tinh thần cực kỳ mạnh mẽ nhưng cũng ẩn chứa những nguy cơ bùng nổ vô cùng nguy hiểm. Dù bắt rễ sâu xa từ niềm tự hào lịch sử hàng nghìn năm, nó cũng đồng thời bị kích thích bởi nỗi uất hận về những tủi nhục mà quốc gia này phải gánh chịu trong quá khứ chưa xa. Nguồn năng lượng này có thể dễ dàng bị giới cầm quyền lèo lái và khai thác triệt để. Trên thực tế, khi xảy ra những biến động hoặc rạn nứt xã hội ở trong nước, việc thổi bùng ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa luôn là một công cụ cố kết xã hội vô cùng tiện lợi để bảo vệ hiện trạng chính trị hiện hành.
Thế nhưng, đến một thời điểm nhất định, chính điều này sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh toàn cầu của Trung Quốc, từ đó làm phương hại trực tiếp đến các lợi ích quốc tế của họ. Một Trung Quốc mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan và hành xử quyết đoán, khi không ngừng phô diễn sức mạnh đang lên của mình, có thể vô tình thúc đẩy các quốc gia láng giềng xích lại gần nhau để thành lập một liên minh vững chắc chống lại chính họ.
Thực tế địa chính trị cho thấy, không một quốc gia láng giềng quan trọng nào của Trung Quốc, bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ và Nga, sẵn sàng chấp nhận quyền lực của Bắc Kinh trong việc thay thế vị trí dẫn đầu của Mỹ trên bàn cờ toàn cầu một khi vị thế đó bị bỏ trống. Có thể trong tương lai, các nước láng giềng này sẽ không còn lựa chọn nào khác, nhưng ở thời điểm hiện tại, họ chắc chắn sẽ tìm mọi cách để ngăn chặn sự thăng tiến quyền lực đó của Trung Quốc. Họ thậm chí sẵn sàng tìm kiếm sự hỗ trợ và bảo hộ từ một nước Mỹ dù đang suy yếu để tạo ra một thế đối trọng cần thiết trước một Trung Quốc quá quyết đoán. Cuộc cạnh tranh địa chiến lược này có thể trở nên cực kỳ gay gắt ở quy mô khu vực, đặc biệt là khi cả ba quốc gia láng giềng lớn này của Trung Quốc đều sở hữu mức độ nhạy cảm và dễ bị kích động tương tự bởi chủ nghĩa dân tộc của riêng họ.
Ngay cả khi chỉ là một liên minh không chính thức chống Trung Quốc giữa ba nước Nhật Bản, Ấn Độ và Nga, điều này cũng sẽ tạo ra những hệ lụy địa chính trị cực kỳ nghiêm trọng đối với Bắc Kinh. Khác hoàn toàn với vị thế địa lý vô cùng thuận lợi của Mỹ, Trung Quốc rất dễ rơi vào tình thế tổn thương trước nguy cơ bị bao vây chiến lược. Nhật Bản sẽ chắn đường ra Thái Bình Dương của Trung Quốc, Nga đóng vai trò ngăn cách Trung Quốc với châu Âu, còn Ấn Độ thì sừng sững tọa lạc trên một đại dương mang tên chính mình, vốn là tuyến đường biển huyết mạch của Bắc Kinh để hướng ra khu vực Trung Đông. Cho đến nay, chiến lược một Trung Quốc trỗi dậy hòa bình, theo cách mà giới lãnh đạo Bắc Kinh vẫn thường mô tả, đang tạm thời giúp họ thu phục được nhiều đồng minh và các quốc gia phụ thuộc tại châu Á. Tuy nhiên, một Trung Quốc hành xử theo chủ nghĩa dân tộc quyết đoán có thể sẽ sớm thấy mình rơi vào cảnh bị cô lập cô đơn hơn bao giờ hết.
12. Cuộc ganh đua giữa Trung Quốc và Ấn Độ cụ thể trên thực địa: Gwadar, Myanmar, và "Chuỗi ngọc trai"
Brzezinski đưa ra lời cảnh báo rằng một giai đoạn căng thẳng quốc tế đặc biệt gay gắt tại châu Á có thể sẽ nổ ra, với những biểu hiện vô cùng nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh cuộc cạnh tranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ đang không ngừng gia tăng tại khu vực Nam Á nói riêng cũng như trên toàn bộ châu lục nói chung. Các nhà hoạch định chiến lược của New Delhi hiện nay đã công khai thảo luận về tầm nhìn một Ấn Độ vĩ đại hơn, giữ vai trò thống trị trên một không gian địa lý rộng lớn trải dài từ Iran cho tới tận Thái Lan. Ấn Độ cũng đang tích cực chuẩn bị các phương án để kiểm soát hoàn toàn Ấn Độ Dương về mặt quân sự. Các chương trình phát triển lực lượng không quân và hải quân của nước này đã thể hiện rất rõ định hướng chiến lược đó. Đi kèm với đó là những nỗ lực ngoại giao có định hướng chính trị rõ ràng nhằm giúp Ấn Độ thiết lập các vị trí chiến lược vững chắc tại các quốc gia láng giềng liền kề là Bangladesh và Myanmar. Việc New Delhi tích cực tham gia vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cảng biển tại hai quốc gia này nhằm củng cố vững chắc khả năng kiểm soát của Ấn Độ đối với các tuyến hàng hải huyết mạch đi qua Ấn Độ Dương.
Ngược lại, mối quan hệ chiến lược chặt chẽ giữa Trung Quốc với Pakistan, cùng với những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm thiết lập thế cân bằng trước sự hiện diện của Ấn Độ tại Myanmar và Bangladesh, chính là sự phản ánh của một thiết kế chiến lược tầm cỡ hơn. Đây là ý định hoàn toàn dễ hiểu của Trung Quốc nhằm bảo vệ tuyến đường tiếp cận hàng hải thiết yếu của mình đi qua Ấn Độ Dương để đến Trung Đông, tránh việc bị phụ thuộc vào những quyết định thất thường của người láng giềng hùng mạnh Ấn Độ.
Người Trung Quốc đã tiến hành khảo sát thực địa để xây dựng một căn cứ quân sự lớn tại bờ biển phía tây nam Pakistan, nằm gần biên giới Iran, tại cảng Gwadar, một bán đảo nhô ra Ấn Độ Dương, đồng thời lên kế hoạch kết nối cảng này với nội địa Trung Quốc bằng đường bộ hoặc hệ thống đường ống dẫn dầu trực tiếp. Tại Myanmar, nơi Ấn Độ đang nâng cấp cảng Sittwe để tạo ra một con đường tắt kết nối với khu vực đông bắc hiểm trở của mình, người Trung Quốc lại dốc vốn đầu tư vào cảng Kyauk Phyu. Từ đây, một hệ thống đường ống dẫn dầu chạy thẳng về Trung Quốc cũng có thể được xây dựng, giúp Bắc Kinh giảm thiểu đáng kể sự phụ thuộc sống còn vào tuyến đường biển dài hơn rất nhiều đi qua eo biển Malacca. Việc gia tăng ảnh hưởng chính trị và quân sự tại chính Myanmar mới là cái đích chiến lược lớn nhất của cả hai cường quốc trong các dự án hạ tầng mang tính địa chính trị này.
Thêm vào đó, Trung Quốc luôn coi việc duy trì Pakistan như một đối trọng quân sự thường trực đối với các tham vọng và lợi ích chiến lược ngày một lớn của Ấn Độ là một lợi ích tối quan trọng của mình. Do đó, mong muốn của Bắc Kinh trong việc xây dựng một căn cứ hải quân tại Pakistan không chỉ đơn thuần là để thiết lập sự hiện diện quân sự của Trung Quốc tại vùng biển Ấn Độ Dương, mà còn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về tầm quan trọng đặc biệt mà Bắc Kinh dành cho sự tồn tại vững vàng của nhà nước Pakistan cũng như mối quan hệ đồng minh giữa Trung Quốc và Pakistan.
Mặc dù cả Trung Quốc lẫn Ấn Độ đều đã hết sức thận trọng để tránh xảy ra một cuộc đụng độ quân sự trực tiếp kể từ sau cuộc chiến tranh biên giới ngắn ngủi vào năm 1962, song sự can dự sâu sắc của Trung Quốc tại Pakistan, sự bất ổn nội bộ của chính Pakistan, cuộc chạy đua hải quân khốc liệt giữa New Delhi và Bắc Kinh tại Ấn Độ Dương, cùng với vị thế quốc tế đang lên của cả hai nước hoàn toàn có thể châm ngòi cho một cuộc chạy đua vũ trang cực kỳ nguy hiểm, hoặc tồi tệ hơn, là một cuộc xung đột vũ trang thực sự. May mắn là cho đến nay, giới lãnh đạo của cả hai quốc gia hạt nhân này đều nhận thức rõ ràng rằng một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ sẽ không giải quyết được bất kỳ vấn đề gì, trong khi một cuộc chiến tranh tổng lực giữa hai cường quốc hạt nhân chắc chắn sẽ dẫn đến sự hủy diệt lẫn nhau.
Mặc dù vậy, ngay cả những vụ va chạm biên giới với quy mô nhỏ cũng có thể dễ dàng thổi bùng lên những ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa mãnh liệt ở cả hai nước, tạo ra những áp lực chính trị cực kỳ khó kiểm soát. Về khía cạnh này, Brzezinski nhận định rằng xã hội Ấn Độ có thể sẽ dễ bị tổn thương và biến động hơn, bởi vì hệ thống chính trị của họ mang tính dân chủ cởi mở hơn so với thể chế độc tài của Trung Quốc. Đồng thời, nỗi lo sợ thường trực của công chúng Ấn Độ trước một kịch bản liên minh quân sự giữa Trung Quốc và Pakistan khiến người dân nước này dễ bị kích động tâm lý chống Trung Quốc hơn nhiều so với chiều ngược lại.
Hơn nữa, giới truyền thông và báo chí Ấn Độ, do xuất phát từ nỗi oán giận trước những thành tựu hiện đại hóa ấn tượng hơn, một nền kinh tế có năng suất cao hơn cùng vị thế quốc tế vượt trội của Trung Quốc, đã ngày càng công khai hơn trong việc truyền tải tới dư luận về mối đe dọa địa chính trị tiềm tàng của Bắc Kinh đối với an ninh quốc gia. Tờ nhật báo tiếng Anh lớn thứ hai của Ấn Độ, một ấn phẩm được giới tinh hoa nói tiếng Anh của nước này đọc nhiều nhất, đã phân tích cho độc giả về cuộc cạnh tranh quyền lực giữa New Delhi và Bắc Kinh tại Nam Á bằng những dòng bình luận như sau:
"Sự chuẩn bị chiến tranh có tính toán và đầy động cơ của Trung Quốc thực chất là đang nhắm vào ai? Trung Quốc tiến hành xây dựng cảng Gwadar tại một vị trí địa chiến lược mang tính sống còn của Pakistan nhằm tạo dựng dấu chân quân sự của mình, hướng tới kiểm soát các tuyến hàng hải huyết mạch và giám sát chặt chẽ Ấn Độ. Như vậy, với sự hỗ trợ công khai lẫn ngầm từ phía Pakistan, Trung Quốc đã thành công trong việc vô hiệu hóa sức mạnh của Ấn Độ trên cả đất liền lẫn trên biển. Ngoài ra, bất chấp mọi quy tắc quốc tế, Trung Quốc đã trực tiếp giúp đỡ biến Pakistan thành một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân nhằm tạo ra thế đối trọng trực tiếp với Ấn Độ. Không dừng lại ở đó, việc Trung Quốc xây dựng hệ thống cảng biển, đường ống dẫn dầu và đường cao tốc tại Myanmar cũng mang tầm quan trọng chiến lược tương đương. Thêm vào đó, việc cảng Hambantota được xây dựng dưới sự tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật của Trung Quốc tại Sri Lanka, một quốc gia về mặt địa lý vốn là một phần tách rời của lục địa Ấn Độ, là một bước đi được tính toán cực kỳ kỹ lưỡng trong chiến lược Chuỗi Ngọc Trai nhằm bao vây hoàn thiện Ấn Độ trên khắp không gian Ấn Độ Dương."
13. Con đường trỗi dậy của Trung Quốc khó hơn nhiều so với Mỹ
Brzezinski khép lại chương sách bằng một nhận định mang tính cảnh báo: sẽ là một sự trớ trêu lớn của lịch sử nếu sự tái xuất hiện của Trung Quốc trên vũ đài quốc tế lại dẫn đến những cuộc xung đột tàn khốc, làm hủy hoại chính vai trò đang lên của châu Á trong các vấn đề toàn cầu. Nhưng cho đến thời điểm hiện tại, sự trỗi dậy của Trung Quốc vẫn để lại những ấn tượng sâu sắc nhờ vào các thành tựu phát triển cụ thể, và phần nào mang lại sự an tâm nhờ vào những bước đi ngoại giao được tính toán vô cùng kỹ lưỡng. Giới lãnh đạo cấp cao tại Bắc Kinh dường như nhận thức rất rõ rằng, tham vọng dài hạn của họ hoàn toàn có thể trở thành nạn nhân đầu tiên của một cuộc khủng hoảng toàn cầu, nếu thế giới rơi vào một cuộc tranh giành hỗn loạn thời hậu Mỹ.
Dù thế nào đi nữa, bất chấp những toan tính chiến lược của giới lãnh đạo Trung Quốc cùng một số biểu hiện của sự nôn nóng mang tính dân tộc chủ nghĩa đang ngày một gia tăng, có thể thấy con đường để Trung Quốc vươn lên vị trí thống trị toàn cầu sẽ phải đối mặt với nhiều trở ngại lớn hơn rất nhiều so với trường hợp lịch sử của Mỹ trước đây. Và nếu Bắc Kinh theo đuổi tham vọng đó với một sự nôn nóng lộ liễu, họ chắc chắn sẽ phải đối mặt với những làn sóng phản kháng và chống đối quyết liệt hơn rất nhiều so với những gì nước Mỹ từng gặp phải trong suốt quá trình vươn lên của mình.
Trung Quốc hoàn toàn không sở hữu những lợi thế địa lý tự nhiên tuyệt vời cùng bối cảnh lịch sử thuận lợi như Mỹ từng có ở giai đoạn bứt phá vào đầu thế kỷ 20. Khác hẳn với việc Mỹ vươn lên thành siêu cường độc tôn duy nhất thế giới vào thập kỷ cuối của thế kỷ 20, sự trỗi dậy hiện tại của Trung Quốc diễn ra trong một bối cảnh vô cùng phức tạp. Họ vừa phải cạnh tranh khốc liệt với các cường quốc khu vực lớn khác, vừa phải phụ thuộc chặt chẽ vào sự ổn định liên tục của hệ thống kinh tế quốc tế hiện hành.
Thế nhưng, chính hệ thống quốc tế đó lại đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ nếu một cuộc tranh giành địa chính trị thời hậu Mỹ thúc đẩy các quốc gia hành xử ích kỷ, chỉ tập trung vào việc bảo vệ các lợi ích quốc gia ngắn hạn nhưng đầy căng thẳng, ngay vào đúng thời điểm mà nhu cầu hợp tác toàn cầu đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Điểm cần nhớ
- Trong trường hợp Mỹ suy yếu mà không có quốc gia nào đủ sức thay thế rõ ràng, kịch bản khả thi nhất chắc chắn không phải là một trật tự thế giới mới êm đềm, mà sẽ là một cuộc giành giật hậu Mỹ đầy khốc liệt. Khi đó, tinh thần hợp tác quốc tế sẽ suy giảm nghiêm trọng, các khối liên kết khu vực mang tính loại trừ trỗi dậy và các cuộc tranh giành ảnh hưởng địa phương có nguy cơ bùng phát bằng vũ lực.
- Các định chế tài chính toàn cầu lớn như IMF, World Bank cùng Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, nơi năm ủy viên thường trực đã nắm giữ quyền lực tuyệt đối suốt gần 70 năm qua, đều đang chịu sức ép to lớn đòi tái phân bổ quyền quyết định dựa trên quy mô dân số thực tế, với Trung Quốc và Ấn Độ là những nước đi đầu, khiến các tổ chức này đứng trước nguy cơ đánh mất tính chính danh lịch sử.
- Mặc dù các cường quốc hạng hai bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, EU, Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil đều đã âm thầm lên kế hoạch cho kịch bản hậu Mỹ, nhưng không một quốc gia nào, thậm chí cả khi họ gộp chung nguồn lực lại, sở hữu đủ sự kết hợp sức mạnh về kinh tế, tài chính, công nghệ và quân sự để gánh vác vai trò thủ lĩnh của Mỹ.
- Lịch sử thế kỷ 20 đã để lại hai bài học nhãn tiền về ảo tưởng tự huyễn hoặc và nôn nóng chiến lược: Hitler với hai quyết định quân sự mang tính tự sát là tấn công Liên Xô rồi tuyên chiến với Mỹ, và Liên Xô với ảo tưởng vượt Mỹ vào thập kỷ 1980 để rồi lâm vào kiệt quệ và sụp đổ sau cuộc chiến xâm lược Afghanistan năm 1979. May mắn là hiện nay không cường quốc nào lặp lại sai lầm ngạo mạn đó.
- Trung Quốc hiện là ứng viên số một có khả năng thay thế Mỹ nhờ truyền thống kiên nhẫn chiến lược, tiêu biểu là châm ngôn "giấu mình chờ thời" của Đặng Tiểu Bình, cùng việc chấp nhận luật chơi quốc tế hiện hành. Dù vậy, Bắc Kinh vẫn còn đi sau Mỹ, châu Âu và Nhật Bản hàng thập kỷ về các chỉ số phát triển tính theo bình quân đầu người, và một quan chức Trung Quốc đã từng thốt lên một cách thực tế rằng xin đừng để nước Mỹ suy sụp quá nhanh.
- Trung Quốc chọn cách không rao giảng mô hình chính trị ra thế giới, thay vào đó lấy tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng làm tấm danh thiếp thương hiệu toàn cầu, thể hiện qua việc quy mô thương mại giữa Trung Quốc và châu Phi đã tăng vọt 1.000% trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008. Song, họ phải đối mặt với hàng loạt rủi ro nội tại nghiêm trọng như khoảng cách giàu nghèo sâu sắc, tầng lớp trung lưu đòi hỏi quyền tự do chính trị lớn hơn, sự bất mãn của công nhân cùng nông dân nghèo và nguy cơ lặp lại một sự kiện Thiên An Môn khác.
- Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc quyết đoán tại Trung Quốc thông qua các bình luận trên tuần san Liaowang, việc rao giảng học thuyết hài hòa hay các chỉ trích công khai hướng vào mô hình Mỹ có thể phản tác dụng lớn. Nó sẽ kích hoạt Nhật Bản, Ấn Độ và Nga thiết lập một liên minh không chính thức để bao vây Bắc Kinh, nhất là khi vị trí địa lý của Trung Quốc vô cùng dễ bị tổn thương với việc Nhật Bản chắn lối ra Thái Bình Dương, Nga ngăn con đường sang châu Âu và Ấn Độ kiểm soát Ấn Độ Dương, bất lợi hơn vị thế của nước Mỹ rất nhiều.
- Cuộc so kè chiến lược giữa Trung Quốc và Ấn Độ đã hiển hiện cụ thể trên thực địa thông qua các dự án xây dựng cảng biển và cơ sở hạ tầng trọng yếu như cảng Gwadar tại Pakistan, cảng Kyauk Phyu và Sittwe tại Myanmar cùng cảng Hambantota tại Sri Lanka, những quân bài mà báo chí Ấn Độ cảnh báo là nằm trong chiến lược chuỗi ngọc trai nhằm bao vây nước này. Mặc dù vậy, cả hai cường quốc hạt nhân này vẫn chủ động kiềm chế để tránh một cuộc đụng độ quân sự quy mô lớn dù vẫn có thể xảy ra các vụ va chạm biên giới nhỏ lẻ.
- Kết luận cốt lõi là con đường vươn lên vị thế độc tôn toàn cầu của Trung Quốc chông gai hơn Mỹ rất nhiều do thiếu hụt những lợi thế tuyệt đối về địa lý và lịch sử như nước Mỹ từng có, đồng thời sự phát triển của họ lại phụ thuộc hoàn toàn vào tính ổn định của hệ thống kinh tế toàn cầu, thứ vốn dĩ rất dễ bị bẻ gãy nếu thế giới rơi vào cuộc giành giật quyền lực thời kỳ hậu Mỹ.
Nguồn
- Sách: Strategic Vision: America and the Crisis of Global Power — Zbigniew Brzezinski
- Trang: 138-157
Cần hỏi thêm về bài này? Ghi lại câu hỏi hoặc mở kênh thảo luận của lớp.